Thứ sáu, 02/12/2022 - 07:14|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường THCS Nguyễn Trãi

BÀI VIẾT: NHỮNG NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI BIỂN

TRƯỜNG THCS NGUYỄN TRÃI

TÁC GIẢ: NGUYỄN THỊ MAI TRÂM

 

CHUYÊN MỤC: “NGƯ DÂN – NGƯỜI BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO”

                 BÀI VIẾT: NHỮNG NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI BIỂN

Tôi đến làng biển Phước Tỉnh vào những ngày cuối tháng 8, trong tiết trời thu yên ả, xem những ngư dân đang tất bật chuẩnbị cho những chuyến ra khơi.

Ngư dân làng biển Phước Tỉnh đang chuẩn bị lương thực, đá xây … cho những chuyến

ra khơi (Ảnh: Mai Trâm)

Tôi gặp anh Nguyễn Trung (xã Phước Hưng) ở cảng Phước Tỉnh ngay trước khi tàu chuẩn bị rời bến. Chuyến đi này, anh sẽ vươn khơi ra Côn Đảo để đánh bắt. Trái ngược với dáng người nhỏ con, làn da rám nắng, anh Trung có giọng nói sang sảng mà theo cách nói của anh là “tôi ăn sóng nói gió quen rồi, không nói nhỏ được”.

“Mọi công việc chuẩn bị cho việc đánh bắt đều đã sẵn sàng, nhưng tôi không phải chủ tàu, chỉ là người làm công, chút nữa tôi sẽ lên con tàu đó”. Nhìn theo hướng tay anh chỉ, tôi đứng trên bờ nhìn raxa, con tàunhư một con cá lớn, chờ được vùng vẫy nơi biển khơi. Theo anh Trung,nghề ngư dân là truyền thống của gia đình. Phía gia đình bên anh lẫn bên vợ, trên dưới 10 người hiện đang theo nghề biển. Ngày xưa, anh làm chủ một con tàu nhỏ, chỉ đánh bắt gần bờ, sau đó vì nhiều lý do, anh bán con tàu này và chuyển sang làm công cho chủ tàu lớn, chuyên đánh bắt xa bờ. Mỗi chuyến giong buồm ra khơi, vẫy vùng nơi “biển mặn, cá đầy” đã làm anh thêm yêu màu xanh của biển.

Anh vẫn nhớ như in ngày đầu tiên được ra khơi đến tận Trường Sa, nhìn những con sóng đập vào thuyền rồi tung bọt nước lên cao trắng xóa. Nhìn biển cảmênh mông, sâu thăm thẳm, con tàu dũng mãnh vượt lên từng cơn sóng dữ khiến anh như choáng ngợp trước thiên nhiên rộng lớn. Chuyến đi ấy cho anh nhiều trải nghiệm, những vùng biển vừa lạ lẫm vừa quen thuộc. Nhưng hơn tất cả, đó có lẽ là khát khao được chinh phục, được vẫy vùng trên vùng biển của quê hương, ở đó không chỉ có tôm cá, có ngư trường trù phú, mà còn cả trách nhiệm của ngư dân, niềm tự hào Tổ quốc.

“Ngoài những vật dụng cần thiết, ngoài lương thực, nước ngọt, dầu, đá lạnh…, mỗi chuyến đi, chúng tôi đều chuẩn bị hai lá cờ, một lá để treo trên tàu, một lá để phòng hờ khi giông gió giật rách lá cờ treo trên tàu, thì sẽ có lá cờ khác thay vào. Xa nhà, xa đất liền khi thì nửa tháng, khi cả tháng, thậm chí là mấy tháng trời, ở nơi đầu sóng ngọn gió, đôi khi chỉ nhìn thấy cờ Tổ quốc tung bay trên biển, không chỉ riêng tôi mà những anh em trên tàu đều cảm thấy phấn khởi, ấm lòng. Lá cờ cũng chính là tín hiệu để các ngư dân nhận ra nhau, nhận ra tàu Việt Nam, nhận ra “bà con” mình để yên tâm đánh bắt”. Anhcười hồ hởi.

Nhắc đến vùng biển của Tổ quốc, về vùng biển Trường Sa, Hoàng Sa tôi cảm nhận rõ giọng của anh Trungnhư nghèn nghẹn. Vì với những ngư dân, được vươn khơi đến vùng địa đầu phía đông của mảnh đất hình chữ S này, hạnh phúc ra khơi đôi khi đơn giản với cá mực đầy khoang. Nhưng hạnh phúc lớn lao là được giương cờ Tổ quốc khắp ngư trường, được làm giàu trên chính vùng biển thiêng liêng. Anh thông thuộc từng rạn san hô, hiểu các đặc tính của từng loài cá, từng khu vực biển.

Theo anh Trungđi biển còn có người con trai lớn 20 tuổi đang loay hoay cùng những ngư dân khác đưa những vật dụng lên tàu. Chỉ vào người con trai, giọng anh tự hào: “Nó theo tôi đi biển cũng được gần chục năm rồi”. Khi nghe tôi hỏi cảm xúc từ những chuyến đánh bắt, em cười bảo “Mỗi khi kéo lưới lên thấy vô cùng nặng, cá tôm mắc lưới lấp lánh là em lại thấy vui. Em nhớ nhất có lần ở ngoài khơi Côn Đảo,vào đêm trăng sáng, nhìn thấy cá heo nhảy lên, chạy theo tàu, chúng rất dễ thương, thân thiện. Biển quê mình vào những đêm trăng, bình yên và rất đẹp”. Khi tôi hỏi “Nếu chẳng may gặp tàu vỏ sắt Trung Quốc tấn công, ngăn cản việc đánh bắt trên biển, em có sợ không?”. Em chỉ tay lên lá cờ bay phần phật trên tàu,cười nói: “Tổ quốc ở đây, em sợ gì chứ?”. Niềm mơ ước của em là “đã theo nghề đi biển, mình phải trở thành một ngư dân giỏi, có nhiều kinhnghiệm để tìm được vùng biển nhiều cá, mực, lần nào về bờ khoang tàu cũng đầy ắp. Khi có đủ tiền, em sẽ sắm một chiếc tàu với công suất lớn, tự mình làm chủ, chinh phục đại dương”.

 

Nghe con trai tâm sự, ánh mắt anh Trunglộ rõ niềm hạnh phúc: “Nó giống tôi ngày xưa, tuổi trẻ có nhiều khát vọng, ngày trẻ tôi cũng vậy”. Anh bảo: “Niềm vui sau lưngnhững người ngư dânnhư chúng tôi, là có một “hậu phương” vững chắc. Ngoàinhững chính sách, chương trình hỗ trợ của Nhà nước, khuyến khích ngư dân phát triển nghề biển, tôi còn có người vợ ở nhà mưu sinh thêm bằng nghề đan lưới, nuôi dạy các con. Các con tôi ngoan, chịu khó, đó là những động lực để ngư dân như tôi vững tâm vươn khơi bám biển”.

Tôi chợt nghĩ, hình như ở các vùng biển, ngư nghiệp được truyền từ đời này qua đời khác. Vị mặn mòi của biển đã thấm vào da thịt, hồn cốt của ngư dân.

 

Đi dọc theo bến cảng, tôi bắt gặpem Đỗ Ngọc Tổng (sinh năm 2003, ngụ tại xã Phước Hưng),là người chuyên làm công việc bơm nước ngọt cho các ghe, tàu. Tổng tâm sự cùng tôi: “Những chiếc ghe này đã bơm đủ nước ngọt, sắp ra khơi. Có khi họ đánh bắt xa bờ, khi gần bờ, tuỳ theo mùa. Tuy em không trực tiếp tham gia đánh bắt trên biển, nhưng hằng ngày nhìn làn nước xanh mênh mông, tiếp xúc với những ngư dân, chứng kiến những chuyến ra khơi, trở về của họ,đặc biệt là người chú ruột cũng mưu sinh bằng nghề biển nên thỉnh thoảng em cũng xin theo ra biển để trải nghiệm, để hiểu hết nỗi vất vả của ngư dân và em trở nên yêu biển tự lúc nào không biết”. Khi được hỏi: “Điều gì làm em vui nhất khi làm công việc bơm nước ngọt cho ghe tàu?”. Em cười trả lời tôi mà không cần suy nghĩ: “Vui thì nhiều lắm cô, ví dụ xong việc bơm nước, mấy thằng thanh niên như em hay rủ nhau đi dọc ra biển, nhặt rác. Rác ngoài khơi dạt vào biển, rác từ đất liền trôi ra, tụi em nhặt rồi gom lại đúng nơi quy định để giữ màu xanh cho biển. Vui nhất là hôm bữa được chủ tàu nhờ em đi mua dùm lá cờ Tổ quốc và nhờ treo lên tàu, tuy việc làm nhỏ nhưng em xem như một cách đóng góp công sức, giúp tàu nước mình khẳng định chủ quyền trên biển”. Em chỉ tay về chiếc tàu mang lá cờ Tổ quốc do chính tay em mua và treo lên đầy vẻ tự hào. Theo như Tổng nói thì“thu nhập tự nghề bơm nước ngọt cho ghe tàu không cao, nhưng em vẫn chưa có ý định bỏ nghề, vì nước ngọt là thứ quan trọng, ghe tàu mà thiếu nước ngọt của em là ngư dân không thể “bám biển” khi ra khơi. Nói vui vậy chứ em rất mong cho những chuyến đi biển của họ luôn bình an, trúng đậm cá tôm, có như vậy thì em mới không bị thất nghiệp”. Em lại cười, nụ cười của chàng trai 19 tuổi trong veo đầy vẻ yêu đời.

Tuy nghề biển cũng có lúc lâm vào những khó khăn như dịch Côvid 19 vừa rồi, giá xăng dầu tăng, bão tố hoành hành…nhưng từ bao đời nay, ngư dân Phước Tỉnh chưa bao giờ ngưng việc đi biển. Bởi biển là nguồn sống của gia đình họ, là ngôi nhà thứ hai. Và hơn hết, đó chính là quê hương, là trọng trách và nhiệm vụ của mỗi người dân đất Việt, như lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Ngày trước, ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải giữ gìn lấy nó". Người cũng từng khẳng định: “Đồng bằng là nhà, mà biển là cửa. Giữ nhà mà không giữ cửa có được không? Kẻ gian tế nó sẽ vào chỗ nào trước? Nó vào ở cửa trước. Nếu mình không lo bảo vệ miền biển, thì đánh cá, làm muối cũng không yên. Cho nên một nhiệm vụ quan trọng của đồng bào miền biển là phải bảo vệ bờ biển. Đồng bào miền biển là người canh cửa cho Tổ quốc”.

  Những tưởng biển đảo bình yên với những cơn sóng nhẹ xô bờ, thế nhưng có những cơn sóng ngầm, bão giông, sóng gió chưa bao giờ lặng im trên mảnh đất xanh mang hình chữ S. Những ngư dân ven biển vừa làm nhiệm vụ sản xuất, vừa trực tiếp tham gia bảo vệ chủ quyền vùng biển của Tổ quốc. Tại cảng cá Phước Tỉnh, mỗi ngày,những ngư dân vẫn đang chuẩn bị cho những chuyến ra khơi mới. Đối với họ, ra khơi không chỉ là vì miếng cơm manh áo cho cuộc sống hằng ngày mà còn khẳng định chủ quyền, lãnh thổ của đất nước. Họ cùng quan điểm – cháu con sau này vẫn nối tiếp truyền thống bám biển, bám ngư trường, giữ lấy chủ quyền thiêng liêng của ông cha đã bao đời gìn giữ. Ngư dân là linh hồn của biển cả, từ làn da rám nắng đến tình yêu đều mang hơi thở của đại dương, của sóng biển dạt dào.

Rời cảng Phước Tỉnh, tôi thầm mong cho biển yên sóng lặng, để những người ngư dân luôn nở nụ cười tươi tắn, bình an từ những chuyến vươn khơi.

Tác giả: Nguyễn Thị Mai Trâm
Nguồn:Trường THCS Nguyễn Trãi Copy link
Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 5
Hôm qua : 18
Tháng 12 : 22