Monday, 22/10/2018 - 12:36|
WEBSITE ĐANG CHẠY THỬ NGHIỆM
A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+

Si Ma Cai: Ấm lòng những lớp học dân nuôi

Tôi đã bị ám ảnh bởi câu nói của một cán bộ giáo dục như trách cứ: Giáo dục Si Ma Cai (Lào Cai) hay thế  mà sao chị chưa lên? Thế rồi, cuối cùng chúng tôi cũng có mặt ở Sín Chéng, một xã vùng cao của huyện Si Ma Cai, cách trung tâm huyện chỉ 10 km.

Chỉ mười cây số, nhưng con đường rừng ngoắt ngoéo,  chỉ thấy rừng núi điệp trùng, xe lắc "cua" phải, "cua" trái, mây trắng phủ xóa rừng xóa núi. Cuộc sống của đồng bào Mông ở đây còn nhiều gian khó, bởi lẽ 100% số xã (13 xã và 93 thôn, bản của huyện Si Ma Cai) đều thuộc diện Chương trình 135 dành cho những xã đặc biệt khó khăn, xã Sín Chéng còn tới 48% số hộ nghèo.

Một xã vùng cao, số đông là người Mông mà có tới năm trường học, trong đó một trường THPT, một trường THCS, hai trường tiểu học đều đạt chuẩn quốc gia và một trường mầm non. Có thể coi đây là một "kỳ tích" đáng nể. Và, mô hình giáo dục cũng chẳng có gì xa lạ: Vẫn là bán trú, nội trú dân nuôi theo từng bậc học.

"Con mình đeo bông hoa về thì mình đi nấu thôi"

Hiệu trưởng Trường mầm non Sín Chéng là một thầy giáo, tên là Mai Quý Ðức. Hiệu trưởng Ðức bảo, cũng là xuất phát từ nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ. Lúc đầu có sự hỗ trợ của Dự án E và D (500 đồng/trẻ) tổ chức các bữa cháo dinh dưỡng giữa giờ, thực hiện từ năm 2004. Nhưng rồi từ đây, nhà trường thấy cần tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ, khi mà những người mẹ, những người phụ nữ Mông phải đi làm nương rẫy vất vả và xa nhà, tối họ mới trở về. Vậy là bàn bạc, phổ biến chủ trương... Các gia đình hưởng ứng. Mỗi trẻ đến lớp, cha mẹ phải đóng 35 nghìn đồng, ba kg gạo và 10 kg củi/tháng. Các bậc cha mẹ còn phải thay phiên nhau đến nấu cơm.

Tình cờ, chúng tôi gặp tại phân hiệu Sản Sín Pao, một trong năm điểm lẻ của Trường mầm non Sín Chéng, cách điểm trung tâm hai km, bà mẹ trẻ Lù Thị Lay, 25 tuổi, có hai con, trong đó một cháu học mầm non. Hôm nay đến phiên Lù Thị Lay nấu ăn. Chúng tôi hỏi: "Nhưng bé chưa nói được tiếng phổ thông, làm sao mẹ Lay biết đến trường mà nấu?". Lay trả lời bằng tiếng phổ thông cũng chưa thật sõi lắm: "Con mình đeo bông hoa hay đeo thẻ về, thì mình đến nấu thôi". "Thế ai đi chợ mua thức ăn?". "Các cô giáo mua, rồi mình nấu, không sao đâu. Có cô giáo hướng dẫn, ở nhà mình vẫn nấu thì đến đây lại nấu mà!".

Hóa ra, có một quy ước là do chưa biết nói tiếng phổ thông, cho nên hôm nào đến phiên cha mẹ của bé nào phải đến nấu ăn, bé ấy  đeo một bông hoa hoặc một cái thẻ trên ngực về nhà. Vậy là cha,  mẹ của bé biết đến phiên mình, tự đến lớp nấu cho tất cả các cháu ăn. Lúc này chúng tôi mới để ý, trên ngực áo của bà mẹ trẻ Lù Thị Lay cũng đính một bông hoa. Sản Sín Pao là điểm lẻ do vậy còn khó khăn, các ông bố, bà mẹ phải tự nấu ăn cho con mình. Ở những điểm lẻ khó khăn hơn, thì bé mang cạp lồng cơm tới lớp. Riêng cạp lồng, do hội khuyến học hỗ trợ mỗi trẻ một cái. Còn ở điểm chính của Trường mầm non Sín Chéng thuận lợi hơn, các ông bố, bà mẹ đã đề nghị góp tiền, thuê người đến nấu (300 nghìn đồng/tháng).

Vậy, điều đáng nói của mô hình bán trú (mầm non) Sín Chéng là gì? Là cung cách giúp trẻ vượt qua "tháng ba ngày tám", tháng giáp hạt, cũng thường gọi là "tháng đói" (khoảng ba tháng sau Tết Nguyên đán) ở vùng cao. Vào những tháng này, trẻ rất dễ bỏ học. Thực tiễn ấy khiến ngành GD và ÐT Si Ma Cai nghĩ tới việc tham mưu các cấp ủy, chính quyền, để rồi từ đó thành một cuộc vận động toàn huyện, xây dựng quỹ lương thực: Mỗi hộ dân đóng 15 kg thóc, 30 nghìn đồng/năm; hộ cán bộ đóng 70 nghìn đồng/năm; các doanh nghiệp nhỏ đóng 200 nghìn đồng/năm. Tích tiểu thành đại, và thành nền nếp. Vậy là trẻ có bữa ăn đủ để có sức theo học. Dĩ nhiên, bữa ăn thường xuyên của trẻ phổ biến là cơm nóng, canh cải, lạc vừng, đậu phụ, riêng thịt, cá, một tuần có hai bữa. Nhưng như vậy là cũng hơn hẳn bữa ăn ở nhà. Rồi dần dà, mô hình bán trú, nội trú dân nuôi được nhân lên trong toàn huyện: Mầm non, phổ biến là bán trú, vì trẻ còn quá nhỏ. Cấp tiểu học, THCS chủ yếu là nội trú, trẻ ở lại trường, cuối tuần về nhà lấy gạo, thức ăn.

Trường tiểu học Sín Chéng có hơn 300 học sinh, phần lớn là người Mông, học tại ba điểm lẻ và một điểm chính. Tại điểm chính có gần 100 học sinh ở nội trú (do xa nhà).

Chúng tôi vào bếp ăn của trường. Bếp có ba nồi cơm điện to. Tiền điện do Phòng GD và ÐT Si Ma Cai trả, thức ăn có canh rau và cá khô (tới năm tấn, do Công ty Vinasuki ủng hộ). Nhà ăn rộng rãi, sạch sẽ với hàng trăm ghế nhựa. Tôi lấy đũa, mở vung nồi, nếm thử. Cơm gạo mới thơm phức, cá khô rim nhạt, ăn vừa miệng, rau trên miền núi cao này bảo đảm toàn rau an toàn.

Lớp 2A của cô giáo Trần Tuyết Lan đang giờ chính tả. Tôi ngạc nhiên vì các bé viết rất đẹp, và đúng.

Khi hỏi chuyện cô giáo Thào Thị Tứ, 24 tuổi, người Mông, Tứ bảo: "Tuy vậy, còn vất vả lắm, vì một số em không biết tiếng phổ thông". "Vậy, cô giáo dạy thế nào?". "Em là người dân tộc Mông, nên phải dịch  ra tiếng dân tộc. Thí dụ, quả dưa chuột phải dịch ra là "lu đi", "máy bay" dịch ra là "lu phú chi"...".

Theo cô giáo Tứ, học sinh rất chăm chỉ đi học. Mấy năm nay, người Mông trên Si Ma Cai cũng thay đổi cách nghĩ nhiều lắm. Thấy con đi học biết nhiều điều hơn, và con người khác đi học mà được khen, nên họ cũng  quan tâm hơn đến việc học của trẻ.

Ấm áp lòng dân

Có cảm giác một "không khí giáo dục" rất đậm trên vùng cao Sín Chéng này. Tôi nghĩ thế, bởi trên con đường chính của xã, chung quanh là núi cao, mây phủ, những ngôi nhà cấp bốn, nhà mái bằng thâm thấp đứng rải rác, chúng tôi gặp một người đàn ông đang dắt một đứa trẻ.

Hỏi ra mới biết, ông là Thào A Vần, 47 tuổi, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc xã. Ông Vần có bốn con, con lớn nhất Thào A Vinh, hiện là giáo viên tiểu học của Trường tiểu học số 1 Sín Chéng,  nơi chúng tôi vừa đến, ba con sau, một cháu học lớp 10 và hai cháu học THCS. Có lẽ thế mà câu chuyện về giáo dục với ông như "nằm lòng tay": "Cán bộ của Ban Chấp hành Ðảng bộ xã này cứ mỗi người phụ trách một thôn để vận động học sinh đi học. Thôn nào vắng học sinh, lập tức cán bộ phải xuống vận động ngay thôi!".

Còn ông Lù Minh Di, 46 tuổi, nguyên là giáo viên tiểu học, lại có cái "lý" của người Mông thời hiện đại: "Bố mẹ mình tạo điều kiện cho mình thì nay mình phải động viên các con học thôi". Nhà ông Di có 10 con trâu, ruộng ít, chỉ có bốn sào, nên rất vất vả khi phải nuôi tới sáu người con, nay chỉ còn ba cháu học lớp 9, lớp 10 và lớp 12. Còn ba người con khác của ông, người làm ở Ðài Phát thanh-Truyền hình Si Ma Cai, người là cán bộ địa chính xã, và người là giáo viên dạy mầm non tại Sín Chéng. Tìm hiểu thêm chúng tôi được biết, gia đình ông Di là gia đình hiếu học tiêu biểu.

Ðem câu chuyện giáo dục ở Sín Chéng trao đổi với Phó Chủ tịch UBND huyện Si Ma Cai Thền Dung Phù, Phó Chủ tịch Phù cho hay:  Si Ma Cai, tuy không còn hộ đói, nhưng số hộ nghèo còn gần 50%. Nay, người Mông không còn phải ăn ngô nữa, mà ngô chỉ dùng cho chăn nuôi. Dù nghèo, nhưng huyện có mạng lưới trường lớp phát triển khá mạnh.

Trước đây, chỉ có 14 trường, nay có tới 46 trường học các cấp, có ba xã có tới hai trường tiểu học. Những con số ấy nghe thì bình thường, nhưng ngẫm lại mới thấy hẳn là một sự kiện lạ với vùng cao nghèo khó. Vì sao? Phó Chủ tịch Phù bảo, vẫn do từ sự thay đổi nhận thức về giáo dục mà dẫn đến sự đồng thuận trong dân, từ đó mà dân hưởng ứng. Như tổ chức bán trú, nội trú dân nuôi ấy. Cũng phải vận động, tổ chức hội nghị nhiều lắm, rồi mới đi đến biểu quyết. Bắt đầu từ hai xã điểm Sín Chéng và Thào Su Phì. Từ hai xã mà nhân ra toàn bộ 13 xã của huyện. Nay, xã nào cũng như Sín Chéng, Thào Chư Phì cả.

Quan trọng nhất là cách giúp cho trẻ vượt qua ba tháng đói giáp hạt-thời gian trẻ dễ bỏ học nhất. Thế là Quỹ lương thực ra đời. Xã nào cũng có quỹ như Sín Chéng. Vào vụ giáp hạt, dân có thể đứt bữa, nhưng học sinh các trường vẫn có gạo ăn để học. Nhờ vậy, toàn huyện Si Ma Cai chỉ có 30 trường hợp theo cha mẹ di dân sang Mường Khương, Bảo Yên hoặc do các em có việc riêng (rồi lại đi học trở lại). Ngược lại, mùa làm nương, trẻ học mầm non lại tăng lên vì gia đình nào cũng muốn gửi con bán trú.

Nhưng nỗi lo cho chất lượng giáo dục của Si Ma Cai vẫn còn cao như những ngọn núi điệp trùng trên những con đường rừng xa ngái. Trưởng phòng GD và ÐT Trần Tuấn Khanh đăm chiêu khi nói rằng, nội dung chương trình, SGK vẫn còn là sự  thách thức với trẻ, bởi sự quá tải, bởi tiếng phổ thông của các em chưa thạo, còn giáo viên biết tiếng dân tộc thiểu số chỉ chiếm khoảng 20%. Si Ma Cai tuy đã có đường ô-tô đến tận các xã nhưng vẫn  còn  ba xã chưa có điện, thì việc sử dụng thiết bị dạy học như thế nào đây, quả là nan giải...

Dù vậy, mô hình phát triển giáo dục ở Si Ma Cai vẫn có sức hút với chúng tôi, bởi tính  khả thi và lợi ích, phù hợp các tỉnh miền núi cao. Ðó là phương thức tổ chức giáo dục sát thực tiễn: bậc mầm non-bán trú; bậc tiểu học, THCS-nội trú. Tất nhiên, do dân đóng góp, dân nuôi, nhưng lại có được sự hỗ trợ  của tỉnh, của xã hội vào ba tháng giáp hạt. Nhờ đó, từ trẻ mầm non đến THCS của Si Ma Cai không bị "đứt bữa". Trẻ đi học chuyên cần là điều kiện đầu tiên của chất lượng giáo dục, đặc biệt là ở vùng núi cao.

Mong sao các tỉnh miền núi cao khác sớm có nhiều  điểm giáo dục như Si Ma Cai.

Theo Nhân Dân 


Nguồn: laocai.edu.vn
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết