Thứ tư, 17/01/2018 - 17:39|
Cổng điều hành Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Giang
A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+

Tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ năm học 2015-2016 những kết quả và bài học kinh nghiệm

Năm học 2015-2016 là năm học thứ hai toàn ngành tiếp tục thực hiện Chương trình hành động của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ triển khai Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (GD&ĐT), là năm cuối của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015, năm đầu tiên triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVIII.
Bám sát chỉ đạo của Bộ GD&ĐT về nhiệm vụ trọng tâm năm học, ngành giáo dục Bắc Giang đã tổ chức triển khai thực
 NGƯT. Nguyễn Đức Hiền - TUV, GĐ Sở GD&ĐT Bắc Giang
hiện tốt 4 nhóm nhiệm vụ: (1) Đổi mới và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý giáo dục, (2) Đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả các hoạt động giáo dục theo hướng bền vững, (3) Phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục, (4) Đổi mới cơ chế tài chính, tăng cường CSVC, trang thiết bị dạy học. Nhiệm vụ trọng tâm và cũng là chủ đề năm học được ngành giáo dục xác định là: Đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả các hoạt động giáo dục theo hướng bền vững. Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, sự phối hợp có hiệu quả và ủng hộ của các ban, ngành, đoàn thể, nhân dân trong tỉnh, phát huy những kết quả đã đạt được, ngành GD&ĐT đã nỗ lực khắc phục mọi khó khăn, đoàn kết, quyết tâm cao, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ trọng tâm năm học 2015-2016.

Ngành GD&ĐT đã làm tốt công tác tham mưu, chủ động, phối hợp tốt với các sở, ban, ngành, đoàn thể, các địa phương tham mưu Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh thông qua và ban hành các đề án, kế hoạch phát triển giáo dục, tạo hành lang pháp lý, cơ chế thuận lợi, sự thống nhất, huy động sự tham gia tích cực của toàn xã hội trong việc đầu tư phát triển GD&ĐT, đồng thời chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc. Cụ thể, đã tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành Chỉ thị số 05-CT/TU về đẩy mạnh dạy và học tiếng Anh trong các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020, UBND tỉnh ban hành Đề án đổi mới dạy và học tiếng Anh trong các trường phổ thông giai đoạn 2016-2020, Kế hoạch xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2016-2020. Trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của tỉnh, của ngành, phòng GD&ĐT các huyện, thành phố đã tham mưu lãnh đạo huyện, thành phố ban hành các kế hoạch phát triển GD&ĐT phù hợp với điều kiện của từng địa phương.

Quy mô, mạng lưới trường, lớp các cấp học ổn định, tiếp tục được củng cố phát triển hợp lý đáp ứng tốt nhu cầu học tập của nhân dân; khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS được quan tâm đầu tư; các chế độ chính sách của nhà nước đối với GV, HS dân tộc được bảo đảm theo quy định hiện hành.

Công tác phổ cập giáo dục (PCGD) các cấp học được duy trì vững chắc, tạo điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Hiện toàn tỉnh có 230/230 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn PCGDMNTNT, 10/10 huyện, thành phố và 224/230 xã, phường, thị trấn được công nhận đạt chuẩn PCGDTHĐĐTMĐ2; tỉnh Bắc Giang được Bộ GD&ĐT công nhận đạt chuẩn quốc gia về PCGDTHĐĐTMĐ2 tại thời điểm tháng 9/2015. 100% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn PCGD THCS.

Chỉ đạo thực hiện đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ nội dung, chương trình, cách tổ chức các hoạt động giáo dục, chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang hình thành, phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất người học. Mô hình Trường học mới Việt Nam được triển khai tại 15 trường tiểu học, 14 trường THCS và nhân rộng tại 89 trường tiểu học đã và đang phát huy hiệu quả, góp phần đổi mới PPDH và nâng cao chất lượng giáo dục. Các hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm phát triển phẩm chất và năng lực người học được chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện tốt.

Tiếp tục chỉ đạo triển khai Đề án “Dạy học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020”, tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành Chỉ thị về đẩy mạnh dạy và học tiếng Anh trong các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020, UBND tỉnh ban hành Đề án đổi mới dạy và học tiếng Anh trong các trường phổ thông với lộ trình cụ thể giai đoạn 2016-2020, tạo cơ chế thuận lợi để ngành giáo dục quyết tâm tạo chuyển biến về chất lượng dạy và học tiếng Anh.

Chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục mũi nhọn có chuyển biến tích cực và phát triển ngày càng vững chắc. Thi HSG văn hóa cấp quốc gia năm 2016 đạt 61 giải (vượt 10 giải so với năm 2015, trong đó có 4 giải nhất, 14 giải nhì, 18 giải ba, 25 giải khuyến khích), xếp thứ 7/63 tỉnh, thành phố về số lượng giải. Thi Khoa học kỹ thuật cấp quốc gia dành cho HS trung học khu vực phía Bắc, có 4 dự án đạt giải. Thi giải Toán trên máy tính cầm tay khu vực Đồng bằng Sông Hồng đạt 28 giải, xếp thứ nhất toàn đoàn. Thi giải toán qua mạng Internet cấp quốc gia đạt 131 giải, trong đó có 59 huy chương vàng, 41 huy chương bạc, 31 huy chương đồng, xếp thứ ba toàn quốc. Thi Tiếng Anh trên mạng Internet cấp quốc gia đạt 116 giải, xếp thứ nhì toàn quốc. Tổ chức tốt Hội khỏe Phù Đổng cấp tỉnh; tham gia Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc lần thứ IX năm 2016 đạt 133 huy chương (40 huy chương Vàng, 44 huy chương Bạc, 49 huy chương Đồng), xếp thứ 15 toàn quốc.

Tiếp tục triển khai đánh giá HS tiểu học theo Thông tư số 30/2014/TT-BGD&ĐT của Bộ GD&ĐT, cơ bản tạo được sự đồng thuận của nhân dân. Đặc biệt, phối hợp tốt với các sở, ban, ngành, đoàn thể, các địa phương chuẩn bị chu đáo các điều kiện cho kỳ thi THPT quốc gia năm 2016. Phối hợp với các trường đại học, cao đẳng tổ chức kỳ thi THPT quốc gia năm 2016 nghiêm túc, an toàn, đúng quy chế và hiệu quả. Kết quả, tỷ lệ tốt nghiệp đạt 98.64%, tăng 0.4% so với năm 2015.

Công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành từ Sở đến các nhà trường tiếp tục được đổi mới; tăng cường phân cấp quản lý đi đôi với kiểm tra, giám sát và đề cao trách nhiệm người đứng đầu. Công tác thanh tra, kiểm tra, KĐCLGD thực hiện tốt, góp phần giữ vững kỷ cương, nền nếp trường, lớp học.

Đội ngũ nhà giáo và CBQLGD trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn cao; có ý thức và bản lĩnh chính trị, có phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần trách nhiệm cao; tích cực học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và lý luận chính trị đáp ứng được yêu cầu đổi mới GD&ĐT hiện nay.

Công tác xây dựng cơ sở vật chất, xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia được quan tâm, đầu tư và đạt kết quả tốt. Tỷ lệ phòng học kiên cố và trường học đạt chuẩn quốc gia đạt cao tạo điều kiện nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục. Đến nay, tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 84,2%, trong đó mầm non 70,8%, TH 85,8%, THCS 92,2%, THPT công lập 96,2%. Toàn tỉnh có 647 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt 80% tổng số trường, trong đó mầm non: 194 trường (70,3%); TH: 245 trường (94,2%); THCS: 178 trường (79,1%); THPT: 30 trường (62,5%).

Kết thúc năm học 2015-2016, Sở GD&ĐT đã hoàn thành xuất sắc các tiêu chí thi đua, được Bộ GD&ĐT tặng Cờ đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua toàn quốc.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả nổi bật nêu trên, trong chỉ đạo và tổ chức triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm học vẫn tồn tại những hạn chế, yếu kém với những nguyên nhân cụ thể như sau:

Một là, công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của một số đơn vị hiệu lực, hiệu quả chưa cao; hiện tượng dạy thêm, học thêm không đúng quy định, tình trạng lạm thu, hiện tượng mất dân chủ, vi phạm quy định về công khai trong trường học chưa được khắc phục triệt để. Công tác quản lý chuyên môn, quản lý tài chính còn xảy ra thiếu sót, sai phạm. Nguyên nhân là do vai trò, trách nhiệm, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của người đứng đầu ở một số đơn vị chưa cao; trình độ, năng lực quản lý, điều hành của một bộ phận CBQL còn hạn chế, nhất là quản lý tài chính; còn hiện tượng thiếu tinh thần trách nhiệm, buông lỏng quản lý, không sâu sát trong chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát; nghiệp vụ của một số chủ tài khoản và kế toán còn hạn chế; việc cập nhật, nghiên cứu, vận dụng các văn bản chỉ đạo chưa kịp thời, chưa thấu đáo. Quản lý, chỉ đạo, triển khai, kiểm tra thực hiện việc dạy thêm, học thêm, thực hiện các khoản thu ở một số địa phương, đơn vị chưa thường xuyên và quyết liệt, hiệu quả chưa cao; xử lý thiếu kiên quyết dẫn đến đơn thư phản ánh vượt cấp, tạo bức xúc trong dư luận.

Hai là, trong tổ chức các hoạt động giáo dục, đổi mới PPDH, việc tổ chức triển khai thí điểm mô hình trường học mới cấp THCS tại một số đơn vị còn khó khăn về CSVC và lúng túng từ phía GV, còn những băn khoăn trong dư luận. Việc đổi mới PPDH theo mục tiêu hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất người học chuyển biến chậm, chưa rõ nét; vẫn còn chênh lệch về chất lượng giáo dục trung học giữa các vùng, miền; chất lượng các trường THCS đạt chuẩn quốc gia tuy có nâng lên song vẫn còn khá thấp. Nguyên nhân là do một bộ phận CBQL, GV nhận thức chưa thấu đáo về mục tiêu đổi mới, còn tư duy theo lối mòn, ngại đổi mới, nhất là đổi mới cách thức, mô hình tổ chức dạy học, PPDH, thi, kiểm tra, đánh giá theo mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT (chuyển từ dạy truyền thụ kiến thức sang hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực người học); một số CBQL, GV chưa tâm huyết với nghề, tinh thần trách nhiệm chưa cao, chưa tích cực, chủ động tự học, tự bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học để cập nhật kiến thức, tự làm mới và nâng mình lên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Bên cạnh đó, điều kiện CSVC có nơi còn bất cập, không đáp ứng được yêu cầu đổi mới mô hình và PPDH; việc tuyên truyền đến phụ huynh HS và xã hội về những chủ trương đổi mới giáo dục chưa thực sự sâu sắc, thấu đáo, nên vẫn còn có ý kiến trái chiều trong dư luận, kể cả từ chính đội ngũ GV.

Quan tâm, đầu tư và thực hiện nhiều giải pháp để xây dựng môi trường dạy và học ngoại ngữ, việc dạy và học ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh đã có chuyển biến nhất định, song, chất lượng dạy và học ngoại ngữ vẫn còn hạn chế. Nguyên nhân là do CSVC, trang thiết bị phục vụ dạy và học tiếng Anh chưa đáp ứng được yêu cầu; đội ngũ GV dạy tiếng Anh còn thiếu về số lượng và hạn chế về năng lực; kỹ năng sử dụng tiếng Anh của HS chuyển biến chậm; thiếu môi trường học tiếng Anh để rèn kỹ năng giao tiếp cho HS.

Công tác quản lý, giáo dục lý tưởng, đạo đức, nhân cách, lối sống, kỹ năng sống, pháp luật, ý thức trách nhiệm công dân cho HS ở một số đơn vị hiệu quả chưa cao. Nguyên nhân là do việc tích hợp giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống trong các giờ học chính khoá chưa tốt; việc giáo dục kỹ năng sống chưa có chiều sâu, thiếu các điều kiện cần thiết để triển khai; một số đơn vị chưa sáng tạo trong việc tổ chức các cuộc vận động, các phong trào thi đua và các hoạt động ngoại khoá; chưa phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường; một số GV chủ nhiệm lớp còn chưa làm hết trách nhiệm quản lý, giáo dục HS, vai trò còn mờ nhạt; sự phối hợp với gia đình và xã hội trong quản lý và giáo dục HS còn chưa thường xuyên. Mặt khác, do ảnh hưởng của trào lưu xã hội đương đại, lối sống thực dụng tác động không nhỏ đến tâm lý, tính cách và hành xử của HS.

Ba là, đội ngũ GV còn thiếu so với yêu cầu, nhất là GV mầm non, GV dạy các môn chuyên ở TH. Việc bố trí CBQL, GV ở một số địa phương, đơn vị chưa hợp lý, có nơi mất cân đối. Chất lượng đội ngũ của một số đơn vị chưa đồng đều; trình độ CBQL, GV đạt chuẩn và trên chuẩn cao, song chưa tương xứng với chất lượng, hiệu quả thực tế. Một số CBQL, GV năng lực chuyên môn hạn chế, chất lượng giảng dạy và hiệu quả làm việc thấp, giảm nhiệt tình và tâm huyết nghề nghiệp. Nguyên nhân là do sự phối hợp giữa ngành giáo dục với các ngành liên quan và chính quyền địa phương có mặt chưa tốt; năng lực tự học, tự bồi dưỡng, thực hiện đổi mới phương pháp lãnh đạo, quản lý ở một bộ phận CBQL và GV còn yếu; một bộ phận CBQL chưa tích cực trong đổi mới tư duy giáo dục, chưa quyết tâm làm chuyển biến đơn vị, đáp ứng yêu cầu của xã hội; việc đánh giá, phân loại, sàng lọc đội ngũ CBQL, GV còn chưa đồng bộ và thiếu kiên quyết, còn có biểu hiện nể nang, bệnh thành tích. Bên cạnh đó, mặt trái của cơ chế thị trường, các trào lưu xã hội và lối sống thực dụng đã tác động tiêu cực đến tâm lý, lối sống của một bộ phận CBQL, GV.

Bốn là, CSVC, trang thiết bị dạy học được đầu tư, song chưa đồng bộ, còn thiếu so với yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt ở bậc học mầm non. Một số địa phương chưa hoàn thành kế hoạch xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia đến năm 2015; kết quả xây dựng trường chuẩn quốc gia mức độ 2, tỷ lệ phòng học kiên cố đạt thấp so với kế hoạch. Việc huy động các nguồn lực của các tổ chức, cá nhân đóng góp tại một số trường mầm non, TH và THCS chưa đảm bảo thủ tục, trình tự theo quy định; chưa tạo được sự đồng thuận, nhất trí cao. Nguyên nhân là do điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh còn nhiều khó khăn, ngân sách Nhà nước chi GD&ĐT đã được tăng cường, song chủ yếu chi cho con người, ngân sách chi đầu tư xây dựng CSVC, trường học còn hạn chế; ngân sách tỉnh, Trung ương hỗ trợ các địa phương, đơn vị đạt thấp so với kế hoạch đề ra (99.371 triệu đồng/227.045 triệu đồng, đạt 43,8%); kế hoạch của một số địa phương xây dựng không sát thực tế, chưa gắn kết với các nguồn lực để đảm bảo thực hiện kế hoạch.


Từ những thành công và những hạn chế, yếu kém như trên trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ trọng tâm năm học, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm như sau:

Thứ nhất, muốn thực hiện thành công mục tiêu đổi mới GD&ĐT phải có sự quan tâm, đầu tư của cả hệ thống chính trị trong đó ngành GD&ĐT phải nêu cao vai trò chủ động, sáng tạo và quyết tâm cao. Phải làm tốt công tác tham mưu với lãnh đạo các cấp để ban hành hệ thống văn bản nhằm cụ thể hoá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về GD&ĐT phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, tạo hành lang pháp lý và cơ chế thuận lợi cho phát triển GD&ĐT. Đồng thời, phải thực hiện tốt công tác phối hợp với các cấp, các ngành, các đoàn thể, các địa phương để tạo sự đồng thuận và huy động sự vào cuộc của toàn xã hội với sự nghiệp giáo dục. Ở đây, công tác truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc tạo cầu nối giữa ngành giáo dục với toàn xã hội. Mặt khác, phải biết lắng nghe phản biện từ xã hội để có những tham mưu, điều chỉnh kịp thời những chủ trương đổi mới. Sự quyết tâm đổi mới phải được thể hiện trước hết trong tư tưởng và hành động của đội ngũ CBQL và tập thể cán bộ GV mỗi đơn vị - chủ thể của công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT. Quyết tâm đổi mới sẽ tạo nên tâm thế vững vàng để toàn ngành thực hiện thành công mọi nhiệm vụ đề ra.

Thứ hai, kỷ cương - nền nếp - chất lượng - hiệu quả là những tiêu chí quan trọng để ngành giáo dục tạo được niềm tin và khẳng định vị thế trong xã hội. Bởi vậy, phải thực hiện tốt công tác cải cách hành chính, công tác thanh tra, kiểm tra nhằm giữ vững kỷ cương, nền nếp trường, lớp học; đặc biệt coi trọng công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch. Khi xây dựng kế hoạch phải biết “nhìn xa”, “thấy rộng”; kế hoạch phải đảm bảo tính sát thực, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm với những giải pháp cụ thể, sáng tạo; thường xuyên rà duyệt tiến độ để kịp thời có những giải pháp điều chỉnh, tháo gỡ, hoàn thành mục tiêu đề ra.

Thứ ba, đội ngũ là yếu tố then chốt quyết định chất lượng giáo dục và sự thành bại của sự nghiệp đổi mới giáo dục, bởi vậy, phải xây dựng được đội ngũ nhà giáo và CBQL các cấp học đủ về số lượng, có năng lực và trình độ chuyên môn đạt chuẩn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vu, biết giữ gìn đạo đức nhà giáo, có tinh thần trách nhiệm cao, say mê, tâm huyết và tận tuỵ với nghề, hết lòng vì sự nghiệp. Đặc biệt, phải đề cao vai trò, trách nhiệm người đứng đầu, lấy chất lượng, hiệu quả công việc để đánh giá người đứng đầu và đơn vị. Người đứng đầu phải có trí, có tâm, có tầm và có tinh thần trách nhiệm cao, có tác phong và phương pháp làm việc khoa học để có khả năng quy tụ, khơi dậy sức mạnh tập thể chung sức hoàn thành nhiệm vụ.

Thứ tư, trong điều kiện ngân sách nhà nước còn khó khăn, cần làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục để huy động các nguồn lực đầu tư cho phát triển giáo dục. Xã hội hoá chính là một trong những “chìa khoá”, là phương tiện để ngành giáo dục đạt được mục tiêu trong điều kiện hiện nay.

Thứ năm, các phong trào thi đua phải được triển khai thiết thực, có hiệu quả; làm tốt công tác khen thưởng để động viên kịp thời và tạo động lực phấn đấu cho CB, GV, HS và thúc đẩy các hoạt động dạy và học trong các nhà trường.

Năm học 2016-2017 là năm học đầu tiên thực hiện các mục tiêu GD&ĐT của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016-2020, năm học tiếp tục triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVIII. Đây cũng là năm học thứ ba ngành giáo dục triển khai thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam theo Nghị quyết số 29-NQ/TW của BCH Trung ương Đảng (khóa XI). Phát huy kết quả những năm học trước, toàn ngành quyết tâm nỗ lực, phấn đấu, khắc phục mọi khó khăn, tổ chức tốt các hoạt động giáo dục theo mục tiêu đổi mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thực chất và bền vững, trong đó tăng cường kỷ cương, nền nếp trường, lớp học, chú trọng giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống, kỹ năng sống, giáo dục pháp luật và ý thức, trách nhiệm công dân đối với xã hội, với cộng đồng; quan tâm giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp cho HS, kết hợp hài hoà dạy chữ, dạy người và dạy nghề, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiện đại và có văn hoá. Tổ chức triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh, giữ vững ổn định và nâng cao kết quả GD&ĐT Bắc Giang so với cả nước.

Đổi mới giáo dục đòi hỏi phải có thời gian để phát huy hiệu quả trong thực tế. Song, yêu cầu của xã hội đòi hỏi ngành giáo dục phải đồng thuận, có bước đi quyết liệt, phù hợp với thực tiễn. Với sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự phối hợp tích cực của các ban, ngành, đoàn thể các cấp, sự đồng thuận và ủng hộ của nhân dân, rút kinh nghiệm từ những thành công và hạn chế, yếu kém của năm học trước, toàn ngành quyết tâm đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, thi đua phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học 2016-2017, tiếp tục tạo những chuyển biến mới về chất lượng giáo dục, giữ vững thành tích đã đạt được, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn mới và đưa Nghị quyết 29-NQ/TW vào cuộc sống.

Nguyễn Đức Hiền, TUV, Giám đốc Sở GD&ĐT

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết