Sunday, 06/12/2020 - 01:32|
WEBSITE PHÒNG GIÁO DỤC THÀNH PHỐ VỊ THANH
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

CHUYÊN ĐỀ TIẾNG VIỆT LỚP 1 – CHƯƠNG TRÌNH GDPT 2018 BỘ SÁCH “CHÂN TRỜI SÁNG TẠO”

Trường TH Nguyễn Văn Trỗi báo cáo bước đầu thực hiện giảng dạy CTGDPT 2018, môn Tiếng Việt lớp 1, bộ sách “Chân trời sáng tạo”.

Trong đời sống của mỗi con người Việt Nam, từ lúc bé thơ đến lúc trưởng thành, tiếng Việt, thứ tiếng mẹ đẻ có vai trò vô cùng quan trọng. Không những tiếng Việt là công cụ để con người giao tiếp và tư duy mà nó còn là phương tiện để con người học hỏi nhằm hoàn thiện nhân cách của mình.

Trong giai đoạn KHCN tiến nhanh như vũ bão, nền tri thức của nhân loại hướng đến đỉnh cao của thời đại, đất nước ta đang ngày càng phát triển mạnh về mọi mặt: Kinh tế - Chính trị -   Văn hóa - Xã hội, với mục tiêu phát triển nền Giáo dục Việt Nam ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới. Chuẩn bị lớp người lao động mới đủ phẩm chất và năng lực phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Đòi hỏi phải đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, chúng ta đã phải xem xét lại chiến lược giáo dục là chấn chỉnh cách dạy của thầy và cách học của trò cho phù hợp với xu hướng của thời đại, đó là: Dạy gì? Dạy ai? Dạy bằng cách nào? Dạy để làm gì?

Ở Tiểu học, căn bản là lớp 1, môn Tiếng Việt là nền tảng giúp các em hình thành kiến thức nền móng, giúp các em có năng lực tư duy để ứng dụng vào thực tế cuộc sống và học tập các môn học khác. 

Chính vì vậy, trẻ em cần được học tiếng Việt một cách khoa học, có hệ thống để các em có thể tiếp nhận tri thức khoa học một cách chính xác, chắc chắn và biết vận dụng nó để giao tiếp, để học tập các môn học trong trường Tiểu học và tiếp thu nền giáo dục của một xã hội văn minh tiến bộ.

          Thực hiện kế hoạch tổ chức chuyên đề, hội thảo của Sở GD&ĐT, trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi xin trình bày một số ý kiến về quá trình thực hiện dạy học Tiếng Việt lớp 1, bộ sách “Chân trời sáng tạo”, cụ thể như sau:

 

I. Đặc điểm tình hình:

-Trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi nằm trên địa bàn Phường III, Thành phố Vị Thanh – Tỉnh Hậu Giang.

 Trường có 2 điểm:

+ Điểm chính tọa lạc tại đường Võ Văn Kiệt, thuộc Khu vực 1- Phường III.

+ Điểm Chùa Khơmer thuộc Khu vực 4- Phường III.

Năm học: 2020- 2021, trường có 7 lớp 1, với 224 HS. Đây là năm thứ  nhất  thực hiện dạy học Tiếng Việt Lớp 1 theo chương trình GDPT -2018, trường chọn bộ sách “Chân trời sáng tạo”.

II. Quá trình thực hiện chương trình GDPT - 2018:

1.Thuận lợi:

* Đối với nhà trường:

- Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo.

- Đội ngũ giáo viên lớp 1 đều đạt chuẩn trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có tâm huyết với nghề, có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác chủ nhiệm và giảng dạy, GV trẻ năng động, sáng tạo, GV lâu năm có kinh nghiệm luôn hợp tác, hỗ trợ giúp nhau cùng tiến bộ.

- Được sự đồng thuận của PHHS khi được tiếp cận bộ sách do trường lựa chọn.

- CSVC của trường đáp ứng được yêu cầu dạy học định hướng đổi mới của chương trình GDPT 2018, đồng thời cũng là điều kiện để thực hiện dạy học theo nội dung chương trình, phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học theo bộ sách “Chân trời sáng tạo”.

* Đối với giáo viên:

- Được sự quan tâm sâu sắc của BGH, chỉ đạo sát sao, triển khai kịp thời các văn bản hướng dẫn thực hiện chương trình dạy học theo chương trình GDPT 2018.

- Giáo viên được bồi dự đầy đủ các lớp tập huấn (trực tiếp và trực tuyến), may mắn hơn, trường có giáo viên được cử tham gia đội ngũ GVCC môn Tiếng Việt của Sở, nên những vấn đề tiếp cận được phổ biến trong tổ khối; thường xuyên tổ chức thảo luận chuyên môn ở trường để cùng chia sẻ, kịp thời tháo gỡ nhừng khó khăn vướng mắc trong quá trình giảng dạy.

- GV nắm vững kĩ thuật dạy học theo hướng tích cực, lấy HS làm trung tâm, tiến trình tiết dạy nhẹ nhàng; tăng cường trọng phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh.

* Đối với học sinh:

          - Chương trình dạy chú trọng vào phương pháp dạy học “Lấy học sinh làm trung tâm” giúp các em rèn kĩ năng, thao tác làm theo sự HD, làm theo những kí hiệu và hiệu lệnh của GV. Thay vì  chỉ đánh vần, HS còn được tự thực hành thao tác phân tích âm, vần và các hoạt động phụ trợ khác, tạo sự hứng thú cho các em, giúp các em chủ động trong việc tiếp thu bài học.

          - Học sinh được học nội dung các chủ đề thật sự gần gũi với cuộc sống,giúp các em dễ cảm thụ nội dung được học; được nói với nhau về các chủ đề mở rộng trong từng bài học, đây là điều kiện để trẻ phát triển ngôn ngữ nói từ vốn    

 

2. Khó khăn:

- Tiếp cận với nội dung chương trình sách giáo khoa mới GV, HS, kể cả  PHHS bước đầu có nhiều bỡ ngỡ: cách dạy – cách học: nhiều hoạt động với cách tiến hành mới mẻ (phần khởi động: trò chơi, bài hát... đòi hỏi phải có nội dung đề cập đến chủ đề/ bài sẽ học); trên cơ sở tích hợp giữa chương trình 2000 và chương trình CGD- TV1 (mô hình tiếng) làm cho GV lúng túng (vì đã ăn sâu các bước dạy trước đây).

- Phụ huynh không nắm bắt được ý đồ SGK nên hướng dẫn cho học sinh khi học ở nhà cũng chưa được như mong muốn, gây cho trẻ sự băn khoăn, khó hiểu, khó tiếp cận (giáo viên dạy khác, phụ huynh dạy khác).

          - Một số PHHS chưa thật sự quan tâm đến việc học tập của con em mình, vì vậy ảnh hưởng nhiều đến chất lượng học.

          - Năng lực học của HS trong lớp không đồng đều, có HS học chậm nên đọc -viết chậm, đòi hỏi nhiều ở năng lực sư phạm, kinh nghiệm chủ nhiệm lớp của GV,  phải biết phân hóa đối tượng để hướng dẫn cách học, gây khó khăn nhiều trong giờ dạy (bị động thời gian), GV vất vả hơn.

 

3. Các giải pháp bước đầu trường đã thực hiện:

          - Sau khi GV được tập huấn đại trà modun 1 của CTGDPT 2018 và được Sở GD&ĐT phối hợp với NXB tổ chức triển khai tập huấn trực tuyến và trực tiếp về chương trình, phương pháp dạy học.

- Được sự quan tâm chỉ đạo của BGH, mặc dù trong giai đoạn diễn biến phức tạp của dịch Covid -19, nhưng tập thể GV tổ 1 của chúng tôi cũng tranh thủ khi chưa tập trung HS để tiến hành thảo luận chuyên đề chuyên môn trong suốt thời gian còn lại của tháng 8/2020, chuẩn bị tốt cho GV tâm thế bước vào giảng dạy CT SGK mới mà không phải quá nhiều băn khoăn, cụ thể:

          + Phân công GV phụ trách môn học (nghiên cứu sâu sát về SGV, SGK) sau đó chia sẻ lại trong tổ, nhấn mạnh những vấn đề cốt lõi, soạn KHDH làm sườn bài minh họa.

          + Cùng trao đổi, đi đến thống nhất việc thực hiện đánh giá thường xuyên đối với HS (TV 1, chỉ yêu cầu HS tự đánh giá – chúng tôi thống nhất chung chỉ ghi ngày vào vở để phụ huynh tiện theo dõi việc học của con em).

          + Thống nhất việc sử dụng VBT/tuần (tiết thực hành và tiết ôn tập);chia sẻ cách hướng dẫn các yêu cầu cần thực hiện.

          + Thống nhất hoạt động cho HS thực hành thao tác gắn chữ (SGV không bêu định hướng hoạt động này).

- Trong quá trình dạy GV và HS tuân thủ các bước, các hoạt động trong sách giáo viên và SGK.

- GV có sổ tay ghi nhận những khó khăn, vướng mắc và chia sẻ trong buổi sinh hoạt của tổ khối để cùng tháo gỡ và đi đến thống nhất PP thực hiện.

- Triển khai kịp thời các công văn chỉ đạo, cùng quán triệt và nghiêm túc thực hiện.

- Sinh hoạt chuyên môn tổ khối 1 tập trung giải quyết những khó khăn , vướng mắc trong quá trình thực hiện nội dung và phương pháp dạy học (GV giỏi CNTT phụ trách tải tranh ảnh, thiết kế giáo án điện tử, GV lớn tuổi, kĩ năng sử dụng CNTT không tinh xảo thì đóng góp ý kiến, ý tưởng, kinh nghiệm tổ chức các hoạt động dạy –học sao cho KHDH được thể hiện rõ nét tính hiệu quả.

          - Cùng nhau ngồi xem băng đĩa minh họa các tiết dạy, rút kinh nghiệm đối chiếu với nội dung tập huấn thống nhất quy trình dạy học sao cho thật hợp lí với từng kiểu bài, giúp GV dễ tiếp cận, dễ nắm bắt những quan điểm, định hướng của bộ sách.

 

III. Đánh giá chung về CTDPT – 2018 và bộ SGK “Chân trời sáng tạo”:

 

1. Những điểm mạnh:

 

- Phát huy năng lực tìm tòi sáng tạo, tự khám phá tư duy có hệ thống, khắc sâu từng công đoạn tự chiếm lĩnh, tự tạo ra sản phẩm.

- PPDH giúp cho GV nắm vững hơn, vận dụng tốt hơn và thuần hơn các kĩ thuật dạy học theo hướng tích cực, lấy HS làm trung tâm, đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực, phẩm chất cho người học.

 

2. Những điểm hạn chế:

 

- SGK có những tranh ảnh chưa rõ ràng, khó hiểu, kênh chữ ở VBT  Tiếng Việt quá nhiều.

- Những điểm hạn chế của phương pháp: Việc dạy học phân hoá HS mất nhiều thời gian.

- Việc thiết kế KHDH mất quá nhiều thời gian: quá nhiều chi tiết (trước đây soạn bài ôn tập có lồng vào nội dung KC; giờ tiết KC phải soạn KHDH theo quy trình riêng.

 

 

 


 

 


Tác giả: TH NGUYỄN VĂN TRỖI
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết