Monday, 29/11/2021 - 15:21|
CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi theo QĐ 239/QĐ-TTg, 2 năm nhìn lại

Đề án Phổ cập GDMN cho trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010-2015 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 9 tháng 2 năm 2010. Từ đó đến nay cả nước tích cực triển khai thực hiện, chúng ta đã làm được những gì? Liệu có kịp thời về đích, đảm bảo chất lượng ?

KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU KHẢ QUAN
I/ Các Bộ, ngành Trung ương đã làm gì?
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với các Bộ liên quan, tham mưu cho các cấp có thẩm quyền ban hành 13 văn bản gồm (2 Quyết định, 6 thông tư, 5 văn bản khác hướng dẫn thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ) chỉ đạo và hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện đề án
2. Tổ chức hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện Quyết định. Ngày 10/8/2010 Thủ tướng Chính phủ chủ trì Hội nghị trực tuyến triển khai Đề án Phổ cập GDMN (PCGDMN) cho trẻ em năm tuổi qua mạng tại điểm cầu Hội trường Chính phủ và 63 điểm cầu của 63 tỉnh, thành phố.
3. Tổ chức Hội thảo, tập huấn nghiệp vụ phổ cập cho lãnh đạo và cán bộ cốt cán cho các tỉnh, thành phố.
4. Kiểm tra nắm tình hình thực hiện nhiệm vụ phổ cập:
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức các đoàn kiểm tra, nắm tình hình thực hiện phổ cập GDMN tại 8 tỉnh, thành phố. Trê cơ sở đó hướng dẫn các địa phương về công tác đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện chính sách cho đội ngũ giáo viên, xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, xác định các nguồn lực ưu tiên đầu tư cho phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi.
II/Các địa phương triển khai như thế nào?
1. Tuyên truyền, phổ biến quán triệt nội dung Quyết định
UBND các tỉnh, thành phố tổ chức hội nghị quán triệt, nâng cao nhận thức trong cán bộ, giáo viên, xác định phổ cập GDMN cho trẻ em năm tuổi là một trong những chỉ tiêu quan trọng của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương giai đoạn 2010-2015 mà ngành Giáo dục và Đào tạo là nòng cốt. Đồng thời có nhiều hình thức tuyên truyền đa dạng, phong phú  về tầm quan trọng, lợi ích, mục tiêu, nhiệm vụ, kế hoạch phổ cập GDMN cho trẻ em năm tuổi, tạo sự đồng thuận, hưởng ứng, tham gia tích cực của các bậc cha mẹ trẻ và toàn xã hội.   
 2. Xây dựng, phê duyệt đề án (kế hoạch) thực hiện Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi
Hầu hết các địa phương đã xây dựng đề án/ kế hoạch cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Quyết định 239/QĐ-TTg, xác định lộ trình chỉ đạo, triển khai thực hiện trên địa bàn. Ngay trong năm 2010 đã có 18 tỉnh. Đến ngày 20/2/2012 đã có 62/63 tỉnh, thành phố phê duyệt đề án/kế hoạch thực hiện phổ cập GDMN cho trẻ em năm tuổi, chiếm tỷ lệ 98,42%. Trong đó có 10 tỉnh đăng ký đạt tiêu chuẩn phổ cập vào năm 2012.
Các địa phương đã kiện toàn Ban chỉ đạo phổ cập giáo dục các cấp, phân công cán bộ chuyên trách theo dõi về công tác phổ cập GDMN cho trẻ em năm tuổi; tổ chức rà soát, đánh giá các điều kiện thực hiện phổ cập để xây dựng chỉ tiêu thực hiện từng năm sát với tình hình thực tế…Ban hành nhiều văn bản cấp tỉnh hướng dẫn chỉ đạo đến các sở, ban ngành, UBND các cấp, phòng GD&ĐT và các cơ sở GDMN, tạo hành lang pháp lý cho việc tổ chức thực .
3. Quy hoạch mạng lưới trường lớp, chuyển đổi loại hình cơ sở GDMN
Hầu hết các địa phương đã chỉ đạo phát triển mạng lưới trường lớp, đảm bảo phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi, duy trì và phát triển số lượng trẻ dưới 5 tuổi; tích cực rà soát, quy hoạch đất đai, dành quỹ đất xây dựng trường mầm non, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các trường mầm non, khuyến khích giao quỹ đất ở các khu đô thị mới, cho thuê đất mở thêm các trường MN tư thục nhằm đáp ứng nhu cầu phổ cập.
Một số địa phương đã xác định quỹ đất để đầu tư xây dựng các trường mầm non tại các khu chế xuất và khu công nghiệp (TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Quảng Ninh, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Lào Cai…). Tỉnh Vĩnh Phúc đã trích 100 tỷ đồng để đền bù, giải phóng mặt bằng mở rộng diện tích đất cho các trường mầm non theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh; Đồng Tháp phê duyệt đề án “Quy hoạch chi tiết mạng lưới trường học các cấp của Tỉnh đến năm 2020”, trong đó giai đoạn 2011- 2015, ưu tiên phát triển trường lớp mầm non, đầu tư  mua sắm trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi để huy động tối đa trẻ em 5 tuổi ra lớp mẫu giáo và chăm sóc giáo dục 2 buổi/ ngày; Tỉnh Tiền Giang, TP. Hồ Chí Minh ra quyết định thành lập mới 12 trường mầm non công lập trong năm học 2010-2011.
Các tỉnh miền núi có nhiều khó khăn trong việc lựa chọn mặt bằng để xây dựng trường lớp, các địa phương đã ưu tiên dành quỹ đất cho việc xây dựng các phòng học cho trẻ em năm tuổi tại các thôn, bản vùng khó .
Địa phương đã tích cực chỉ đạo thực hiện chuyển đổi loại hình trường mầm non theo quy định của Luật Giáo dục, đảm bảo có đủ trường mầm non công lập đáp ứng yêu cầu phổ cập giáo dục đối với trẻ 5 tuổi. Trong 2 năm (2010-2011) cả nước chuyển được 3.473 trường bán công sang công lập. Các tỉnh có số lượng lớn trường mầm non bán công chuyển sang công lập tập trung chủ yếu ở phía bắc: Phú Thọ (259 trường), Hải Phòng (159 trường), Vĩnh Phúc (158 trường), Hà Nội (350 trường), Bắc Ninh (135 trường), Ninh Binh (134 trường), Hà nam (112 trường), Thái Bình (287 trường), Thanh Hóa (525 trường), Nghệ An (495 trường), Quảng Bình (105 trường), Thừa Thiên Huế (51 trường), Khánh Hòa (102 trường) …; Nhiều địa phương đã có cơ chế chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư kinh phí xây mới trường mầm non tư thục với qui mô lớn để huy động trẻ ra lớp như Quảng Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đắc Lắc, Đà Nẵng.
 4- Bố trí ngân sách và phối hợp lồng ghép các nguồn vốn, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi
Các tỉnh ưu tiên vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục & đào tạo cho PCGDMN 5 tuổi; chỉ đạo lồng ghép, phối hợp với các nguồn vốn tại địa phương, các ch­¬ng tr×nh, dự án như: chương trình kiên cố hóa trường, lớp học,  chương trình 135, ch­¬ng tr×nh n­íc s¹ch vµ vÖ sinh m«i tr­êng n«ng th«n; chương trình xây dựng nông thôn mới, nguốn vồn từ các dự án của các tổ chức quốc tế hỗ trợ cho địa phương, nguồn ngân sách địa phương và xã hội hoá giáo dục để tập trung cho việc xây dựng trường, lớp, cơ sở vật chất thực hiện PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi.
Với một số địa phương còn nhiều khó khăn, nguồn kinh phí hạn hẹp, tỉnh đã ưu tiên tập trung đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng đồ chơi cho các đơn vị  theo lộ trình đạt chuẩn phổ cập GDMN cho trẻ năm tuổi; nhiều tỉnh phát động phong trào làm đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho các lớp đủ theo nhu cầu tối thiểu phục vụ cho các hoạt động của trẻ khi chưa có sự đầu tư, hỗ trợ của cấp trên (Hà Nam); ưu tiên xây dựng đủ phòng học cho các lớp mẫu giáo 5 tuổi ở các xã vùng khó khăn, biên giới, vùng đồng bào dân tộc theo chương trình kiên cố hóa trường lớp học và trái phiếu Chính phủ (Thanh Hóa), TP Hồ Chí Minh đã có kế hoạch xây dựng mới 460 phòng học phục vụ Đề án PCGD MN cho trẻ 5 tuổi theo lộ trình trong giai đoạn 2010 – 2015, đến nay đã hoàn thành việc phân bổ ngân sách và triển khai 7 dự án trường mầm non với tổng kinh phí 118,285 tỷ đồng đảm bảo đầu năm học 2011 – 2012 sẽ đưa vào sử dụng mới thêm 113 phòng học phục vụ Đề án PCGD MN cho trẻ năm tuổi.
 NHỮNG CON SỐ ẤN TƯỢNG
Theo số liệu báo cáo của 59 tỉnh/ thành phố: Tổng kinh phí đầu tư cho GDMN là: 13.341,576 tỷ đồng. Huy động từ các nguồn:
  • Chương trình mục tiêu Quốc gia giáo dục và đào tạo để phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi là: 1.672,020 tỷ đồng, chia nguồn gốc vốn từ các dự án cụ thể như sau:
  • Chi thường xuyên: 5.975,580 tỷ đồng
  • Xây dựng cơ bản: 3.122,882 tỷ đồng
  • Học phí: 907,699 tỷ đồng
  • Vốn lồng ghép: 698,318 tỷ đồng
  • Huy động XHH: 965,068 tỷ đồng
Về xây dựng trường lớp
  • Phòng học cho lớp mẫu giáo 5 tuổi đến nay:
  • Đã xây dựng kiên cố: 26.151 phòng, trong đó công lập: 18.793 phòng  ngoài công lập: 7.358 phòng.
    • Phòng chức năng: 84.913 phòng
    • Về đầu tư mua sắm đồ dùng, đồ chơi, thiết bị tối thiểu để thực hiện Chương trình GDMN mới: trong 2 năm đã mua sắm 113.676 bộ đồ dùng - đồ chơi - thiết bị, 8.140 bộ đồ chơi ngoài trời, 7.571 bộ thiết bị làm quen với ngoại ngữ, tin học cho các trường mầm non với  tổng kinh phí là 1.068,401 tỷ đồng.
Thực hiện đề án chuyển đổi trường mầm non bán công sang công lập, các tỉnh, thành phố sẽ tuyển dụng 33.984 giáo viên vào biên chế để thực hiện phổ cập và phát triển GDMN. Đến tháng 2/2012 các địa phương đã tuyển được 24.163 chỉ tiêu; có 111.496 giáo viên được trả theo thang bảng lương và nâng lương theo định kỳ, giải quyết chế độ về 1 lần cho trên 6.000 giáo viên mầm non cao tuổi.
Theo báo cáo của 63 tỉnh, thành phố đến hết tháng 2 năm 2012 đã có 1.543 xã /11.069 xã/phường được kiểm tra công nhận phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi, chiếm 13,9% số xã phường hiện có. Trong đó có một số địa phương đạt khá cao như: Thái Bình có 270/285 xã (94,7%); Đà Nẵng: 47/56 xã (83%), Lào Cai: 46/64 xã (71,9%); Bắc Ninh: 75/126 xã (59,5%), Quảng Ninh 98/186 xã (52,7%), Phú Thọ : 117/277 xã (42,2%), Nghệ An: 283/479 xã (38,2%) được công nhận đạt chuẩn phổ cập.
 Riêng 10 tỉnh đăng ký hoàn thành phổ cập năm 2012, đã có 35,9% số xã/ phường (844/2410 xã); 13,8% số huyện/quận (17/123 huyện) đã được các tỉnh công nhận đạt chuẩn phổ cập cho trẻ em 5 tuổi. Tạm dẫn đầu về số xã được công nhận phổ cập là Thái Bình (94,7% số xã); tiếp theo là Bắc Ninh (59,5%),  Phú Thọ (42,2%), Nghệ An (38,2%); tạm dẫn đầu về số huyện/quận được công nhận phổ cập là Bắc Ninh 5/8 huyện (62,5%), tiếp theo là Hải Dương: 5/12 huyện (41,7%), Vĩnh Phúc: 2/9 huyện (22,2%).
Kết quả 2 năm thực hiện cho thấy:
Quyết định số 239/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phổ cập GDMN cho trẻ em năm tuổi là một chủ trương hết sức đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, Quyết định đã có tác động rất to lớn đối với sự phát triển của GDMN và tiến bộ xã hội, đáp ứng mong mỏi của các cấp, các ngành được sự đồng tình và ủng hộ của các bậc cha mẹ và toàn xã hội, mở ra một giai đoạn mới để nâng cao chất lượng GDMN.
  Kết quả bước đầu đạt được củng cố niềm tin và hứa hẹn Đề án Phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi sẽ triển khai thực hiện đảm bảo chất lượng và về đích đúng thời gian.
 Nguyên nhân của kết quả nói trên là:
 1. Chủ trương sáng suốt của Đảng, Nhà nước về Phổ cập GDMN 5 tuổi kịp thời, hợp lòng dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ và sự vào cuộc kịp thời của các Bộ, ngành;
2. Sự tham mưu tích cực của các Sở Giáo dục và Đào tạo, sự chỉ đạo sát sao, đầy quyết tâm của UBND các tỉnh, thành phố, cấp ủy đảng và chính quyền các cấp;
3.Sự quyết tâm, nhiệt tình, trách nhiệm,  của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên mầm non và truyền thống hiếu học của nhân dân là nguồn động viên to lớn để họ hoàn thành nhiệm vụ. 
KHÓ KHĂN CẦN THÁO GỠ
     1. Khó khăn lớn nhất là việc bố trí các nguồn vốn để thực hiện. Một số địa phương xây dựng đề án với nhiều mục tiêu cao, nhưng chưa sắp xếp để ưu tiên trọng điểm và thiếu chủ động trong việc lồng ghép, huy động các nguồn vốn triển khai; Đối với các tỉnh dự kiến hoàn thành phổ cập năm 2012 vẫn còn nhiều khó khăn trong việc bố trí nguồn vốn, do nguồn vốn năm 2010 được phân bổ từ cuối năm 2009 (chưa phê duyệt đề án phổ cập GDMN cho trẻ em năm tuổi), nên không thể điều chuyển, bổ sung cho năm 2010.
2. Thiếu cơ sở vật chất so với nhu cầu phổ cập còn khá phổ biến ở các địa phương: Cơ sở vật chất, phòng học cho các lớp MN 5 tuổi đã được ưu tiên, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu; do ảnh hưởng của tình hình lạm phát, biến động giá cả nên kế hoạch đầu tư kinh phí xây dựng cơ sở vật chất trường lớp không đảm bảo so với thực tế. Tỷ lệ trường học kiên cố mới đạt hơn 48%; phòng học nhờ, học mượn 18%; ở các thành phố, thị xã, số trẻ/lớp vượt quy định còn nhiều. Cả nước hiện còn 8.945 lớp ghép mầm non, chiếm 5,9% số lớp; vẫn còn thiếu 23.379 phòng học, thiếu nhiều phòng chức năng.
Quỹ đất dành cho xây dựng các trường mầm non nhiều nơi rất khó khăn, trong khi nhu cầu đến trường của trẻ ngày càng cao.
3. Đội ngũ giáo viên tuy có tỷ lệ đạt chuẩn cao (96%) nhưng vẫn hạn chế về kỹ năng nghề nghiệp, còn nhiều bất cập trong việc thực hiện chương trình GDMN mới. Ở một số địa phương tình trạng thiếu giáo viên chậm được khắc phục. Cả nước hiện vẫn còn thiếu 22.811 giáo viên mầm non so với nhu cầu.
Đời sống giáo viên còn nhiều khó khăn, thu nhập thấp, phải làm việc hơn 8 giờ/ngày. Vẫn còn những tỉnh vẫn chưa thực hiện việc chi trả lương cho giáo viên mầm non ngoài biên chế theo thang bảng lương, ngạch, bậc và nâng lương theo định kỳ, tiềm ẩn tái diễn nguy cơ giáo viên bỏ nghề.
4. Việc huy động trẻ 5 tuổi ra lớp để thực hiện phổ cập, nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ chưa đồng đều. Các địa phương còn lúng túng trong việc tổ chức ăn bán trú cho trẻ em do thiếu cơ sở vật chất và cô nuôi dưỡng, thiếu cơ chế và nguồn hỗ trợ ăn trưa cho trẻ em nghèo, khó khăn theo đề án phổ cập.
Tại các xã vùng 135, vùng cao, các xã có nhiều hộ gia đình có cha mẹ trẻ đi làm ăn xa và khu công nghiệp có nhiều lao động nhập cư không ổn định, nhận thức của người dân về phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi còn hạn chế, công tác tuyên truyền, điều tra và triển khai phổ cập còn gặp nhiều khó khăn. Việc tập trung trẻ phân lớp theo độ tuổi, học 2 buổi/ngày theo chương trình GDMN mới và duy trì trẻ đi học chuyên cần còn nhiều bất cập.
            Nhìn lại hai năm triển khai, thực hiện công tác phố cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi, thành công rất đáng khích lệ và tự hào nhưng khó khăn phía trước vẫn còn không ít. Nhìn ra những những bất cập, khó khăn để quyết tâm khắc phục, phấn đấu để hoàn thành phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi đúng lộ trình, có chất lượng đòi hỏi những nỗ lực lớn hơn của các ngành các cấp, các bậc cha mẹ và tất cả chúng ta.
Ths. Nguyễn Trung Kiên, Vụ Giáo dục mầm non

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết