Kế hoạch giáo dục
Liên kết website
Quảng cáo
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

CUỘC THI CÔNG NHÂN, VIÊN CHỨC, LAO ĐỘNG TÌM HIỂU VỀ GIÁ TRỊ CỦA TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

CUỘC THI CÔNG NHÂN, VIÊN CHỨC, LAO ĐỘNG TÌM HIỂU VỀ GIÁ TRỊ CỦA TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

Họ và tên tác giả: Châu Thị Bé Diễm

Năm sinh: 1987

Nghề nghiệp: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường THCS Vĩnh Trung

Địa chỉ: Ấp 3 Vị Đông Vị Thủy Hậu Giang

Số điện thoại: 0969081678

BÀI DỰ THI

Nước ta Nằm ở Đông Nam lục địa châu Á, có bờ biển dài 3.260km với hàng nghìn hòn đảo, Việt Nam không chỉ có vị trí địa lý chính trị quan trọng với khu vực và thế giới mà còn có tài nguyên phong phú, đa dạng.

Nước ta có 54 dân tộc, trong đó có 16 dân tộc thiểu số có dân số dưới 10.000 người.

Qua các bằng chứng khảo cổ học được tìm thấy ở nhiều nơi trên đất nước ta đã khẳng định có sự tồn tại thời kỳ nguyên thủy. Dân tộc Việt Nam có nguồn gốc bản địa. Đất nước Việt Nam là một trong những cái nôi của loài người.

Trong chiều dài lịch sử loài người, tôn giáo, tín ngưỡng đã gắn bó lâu đời với các định chế trong xã hội. Cứu cánh của tôn giáo từ khởi thủy nhằm hướng con người đến với các giá trị của chân, thiện, mỹ. Nhưng trong quá trình phát triển của đời sống xã hội, các nhà chính trị đã tìm thấy ở tôn giáo phương tiện để có thể quản lý đời sống tinh thần của người dân. Do đó, một kỷ nguyên dài trong lịch sử loài người, nhà nước và tôn giáo đã gắn bó chặt chẽ với nhau. Thần quyền và thế quyền đã cộng sinh một cách mật thiết và lâu dài.

Tôn giáo có thể được định nghĩa là một hệ thống các văn hoá, tín ngưỡng, đức tin bao gồm các hành vi và hành động được chỉ định cụ thể, các quan niệm về thế giới, thể hiện thông qua các kinh sách, khải thị, các địa điểm linh thiêng, lời tiên tri, quan niệm đạo đức. Tuy nhiên, hiện tại chưa có sự đồng thuận học thuật về những gì chính xác cấu thành một tôn giáo.

Tôn giáo, tín ngưỡng là niềm tin của con người tồn tại với những quan niệm và hoạt động được hình thành từ lâu trong lịch sử như đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, nghi lễ và các hoạt động lễ hội. Những tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta luôn được nhà nước tạo điều kiện để phát triển. Bởi từ xa xưa thì nước ta đã tồn tại nhiều tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau để hình thành nên đất nước đa tôn giáo và đa tín ngưỡng như hiện nay. Những hoạt động liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo là một phần không thể thiếu trong đời sống của người dân Việt Nam vì chúng tạo nên những bản sắc riêng của người dân Việt.

Tôn giáo, tín ngưỡng là đời sống tinh thần cần có là mỗi con người nên có để có những niềm tin trong cuộc sống và hạnh phúc hơn. Tôn giáo và tín ngưỡng đã tạo nên những nét văn hoá riêng trong mỗi địa phương tại nước ta, tạo nên những truyền thống văn hoá đẹp đẽ giúp mỗi người dân hiểu được lễ nghĩa, sự tôn trọng với những niềm tin của người dân trong một địa phương nhất định.

Nước ta có những tôn giáo được người dân tôn thờ như Phật giáo, Thiên chúa, Cao đài, Tin lành, Đạo hồi,... Những tôn giáo này được lưu truyền vào đất nước từ xa xưa và đã truyền dạy cho người dân những tư tưởng tốt đẹp, lành mạnh trong các mối quan hệ xã hội như Phật giáo luôn dạy con người hiểu được nhân quả để biết cách cư xử hành vi đúng mực trong đời sống tránh những hậu quả sau này hay Thiên chúa giáo răn dạy con người không được giết người, không được tham gian. Đó là những tư tưởng đúng đắn mà nhà nước ta hiện nay cũng đang xây dựng. Bên cạnh đó người dân còn có những tín ngưỡng độc đáo của các vùng quê Việt Nam như tín ngưỡng sùng bái tổ tiên, thành hoàng làng, tín ngưỡng thờ Tứ phủ, Tam phủ,... Những tín ngưỡng độc đáo này đã trở thành truyền thống đẹp đẽ của dân tộc Việt Nam và cũng là để răn dạy người dân luôn biết ơn, kính trọng tổ tiên, cha ông từ xưa đã có công xây dựng tổ quốc, răn dạy con người luôn có niềm tin trong cuộc sống và gìn giữ những truyền thống này.

Tuy nhiên cũng có những biểu hiện lệch lạc về suy nghĩ, lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để gây ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân và trật tự của xã hội hiện nay. Những kẻ gian trá đã lợi dụng niềm tin của con người để làm những điều xấu và có những hành vi không chuẩn mực đạo đức xã hội. Hoặc những hội tôn giáo được thành lập và phá hoại những truyền thống tốt đẹp từ xa xưa gây ảnh hưởng đến xã hội như hội thánh đức chúa trời, vàng chứ, hà mòn, ... đã thực hiện những nghi thức, hành vi, rao giảng giáo lý xuyên tạc đường lối, chủ trương của nhà nước và Đảng ta.

Vậy nên các cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp nhà nước là những người đi đầu giúp người dân tránh xa những biểu hiện tôn giáo, tư tưởng lệch lạc. Cán bộ, công chức cần gương mẫu thực hiện các định hướng của Đảng và chủ động đi đầu phát huy những tín ngưỡng tốt đẹp của người dân địa phương mình để người dân nhận ra những giá trị tốt đẹp mà tôn giáo, tín ngưỡng mang lại.

Việt Nam là quốc gia có nhiều tôn giáo, tín ngưỡng với khoảng 20 triệu tín đồ theo các tôn giáo khác nhau. Quán triệt, kế thừa, phát triển và tôn trọng tín ngưỡng, tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm qua, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm và không ngừng hoàn thiện chủ trương, cơ chế, chính sách pháp luật về tôn giáo tạo điều kiện tốt nhất cho nhân dân thực hành quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình. Mọi hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân đều được chính quyền tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các tôn giáo ngày càng được cải thiện.Tuyệt đại bộ phận tín đồ tôn giáo đều là nhân dân lao động, chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, quy định của địa phương; tích cực tham gia phong trào thi đua yêu nước, sống tốt đời đẹp đạo, đoàn kết lao động sản xuất, phát triển kinh tế - văn hóa góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh.

Nhận thức được tầm quan trọng và vai trò của công tác dân tộc, xây dựng chương trình hành động để thực hiện thắng lợi chính sách đại đoàn kết dân tộc và công tác dân tộc, phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng cán bộ, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số. Đảm bảo tỉ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu số trong các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập.

Phát triển kinh tế – xã hội tại các vùng miền núi, vùng còn nhiều khó khăn, xóa đói giảm nghèo, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các dân tộc. Tiếp tục chú trọng đầu tư về cơ sở hạ tầng, y tế, văn hóa và giáo dục.

Có sự phối hợp giữa nhiều cơ quan, nhiều bộ, ngành để xây dựng chính sách phù hợp, thực hiện có hiệu quả và đảm bảo sự phát triển của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo kịp sự phát triển của đất nước.

Tỉ lệ người dân tộc thiểu số tham gia vào hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương còn thấp do công tác tuyển dụng, phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số còn thiếu tầm nhìn và định hướng chiến lược.

Tăng cường bồi dưỡng, giáo dục để người dân tộc thiểu số nỗ lực học tập, rèn luyện để trưởng thành, chống tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước.

Xây dựng cơ chế tuyển dụng người dân tộc thiểu số làm việc tại các cơ quan đặc thù thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Cần quy định rõ tỉ lệ cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số công tác tại các cơ quan nhà nước, tại các huyện, tỉnh có tỉ lệ dân số là người tộc thiểu số cho tương xứng.

Tăng cường công tác bồi dường kiến thức pháp luật, kiến thức kinh tế, xây dựng đề án đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số đặc biệt là ở cấp xã để bổ sung cán bộ làm công tác dân tộc.

Xây dựng cơ chế tuyển dụng, đào tạo, luân chuyển cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số. Kiểm tra, giám sát chặt chẽ công tác bình đẳng giới và lan tỏa những tấm gương phấn đấu học tập, rèn luyện để tăng cường vận động ý thức tự giác, tự học tập, tu dưỡng của cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số.uan hện giáo t*Trong những năm gần đây, sự xuất hiện của nhiều hiện tượng tôn giáo mới, đời sống tín ngưỡng, tâm linh, tôn giáo của đồng bào các dân tộc thiểu số có nhiều biến động lớn, làm xuất hiện những biểu hiện mới trong quan hệ dân tộc – tôn giáo.

Sự du nhập của các tôn giáo, đặc biệt là du nhập vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã khiến cho mối quan hệ dân tộc – tôn giáo ở những vùng dân tộc thiểu số có nhiều biến đổi. Làm hình thành nên các cộng đồng dân tộc – tôn giáo. Các giá trị tôn giáo trước đây được quy ước trong phạm vi dòng họ, tộc người thì bây giờ thông qua sự du nhập của các tôn giáo lớn thì tôn giáo gắn kết các nhóm tộc người.

Sự gắn kết giữ dân tộc và tôn giáo đã tạo điều kiện cho các dân tộc mở rộng giao lưu với các tộc người khác. Các giá trị tôn giáo là yếu tố gắn kết cộng đồng, tạo ra mối liên kết theo dạng tộc người – tôn giáo.

Trong mối quan hệ dân tộc – tôn giáo thì mối quan hệ này có thể là yếu tố góp phần vào sự ổn định chính trị – xã hội hoặc cũng có thể làm rạn nứt các mối quan hệ cộng đồng. Hiện tượng một bộ phận người dân tộc cải đạo do tác động của các tôn giáo lớn du nhập đã dẫn đến những xáo trộn lớn trong quan hệ tộc người, trong các mối quan hệ truyền thống của người dân tộc thiểu số có đạo.

Người dân tộc thiểu số có đạo thường có mối liên kết cộng đồng chặt chẽ theo truyền thống gia đình – dòng họ – làng bản. Sự suy giảm về về vai trò của trưởng họ, già làng, trưởng bản đã làm cho sự kết nối niềm tin tôn giáo có sự thay đổi lớn, đôi khi gây nên những mâu thuẫn với các thành viên không theo đạo.

Sự xuất hiện của các tôn giáo mới ngoài việc gắn kết các giá trị văn hóa thì còn tiềm ẩn nguy cơ gây mất đoàn kết khối đại đoàn kết dân tộc. Nhiều người dân tộc thiểu số bị các thế lực thù địch lợi dụng, gây tác động xấu đến niềm tin của một bộ phận người dân đối với Đảng, Nhà nước.

Trong bối cảnh mới, có nhiều yếu tố tác động đến mối quan hệ dân tộc – tôn giáo do đó cần đẩy mạnh công tác dân tộc tôn giáo để tuyên truyền cho người dân hiểu đúng về chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước. Đồng thời nâng cao nhận thức về pháp luật và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc trong thời đại mới.

 

 

 

 


Lượt xem: 26
Tác giả: Trường THCS Vĩnh Trung
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Thời tiết
Thời tiết Hà Nội