Từ Trường cấp 3 Vụ Quang đến Trường THPT Hàm Nghi (1972-2012)

Tháng 9 năm 1972, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang diễn ra ác liệt, nhằm nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài cho huyện Hương Khê, được sự nhất trí của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Hà Tĩnh, Ty Giáo dục Hà Tĩnh, Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Hương Khê, trường Cấp 3 Vụ Quang được thành lập. Năm 1993, trường mang tên trường Cấp 2 + 3 Vụ Quang. Năm 2001, trường được đổi tên thành trường PTTH Hương Khê II. Năm 2003, trường được chính thức mang tên trường THPT Hàm Nghi.


I. SỰ THÀNH LẬP TRƯỜNG CẤP 3 VỤ QUANG – THPT HÀM NGHI

Hương Khê là một huyện miền núi nằm phía tây nam của tỉnh Hà Tĩnh. Hơn 140 năm qua, kể từ ngày thành lập đến nay, nhân dân Hương Khê anh dũng trong chiến đấu, sáng tạo trong lao động góp phần vào việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hương Khê là trung tâm của phong trào Cần Vương với thành sơn phòng Phú Gia nổi tiếng. Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, Hương Khê là ATK, là địa bàn nằm trên tuyến đường chiến lược Hồ Chí Minh. Trong công cuộc xây dựng chế độ mới, nhân dân Hương Khê đã giành được nhiều thành tựu, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao. Trong những thành tựu ấy có đóng góp không nhỏ của ngành giáo dục.

Tháng 9 năm  1972, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang diễn ra ác liệt, nhằm nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài cho huyện Hương Khê, được sự nhất trí của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Hà Tĩnh, Ty Giáo dục Hà Tĩnh, Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Hương Khê, trường Cấp 3 Vụ Quang được thành lập. Năm 1993, trường mang tên trường Cấp 2 + 3 Vụ Quang. Năm 2001, trường được đổi tên thành trường PTTH Hương Khê II. Năm 2003, trường được chính thức mang tên trường THPT Hàm Nghi.

Khi mới thành lập, do miền Bắc đang có chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, trường phải đóng tại thôn Ngọc Mỹ xã Hòa Hải. Đây là một thôn vắng nép dưới chân của dãy Trường Sơn hùng vĩ. Trường có 17 cán bộ, giáo viên, 270 học sinh. Hiệu trưởng là thầy Trần Văn Ngụ, Bí thư chi bộ là thầy Lưu Văn Mai. Trường có 3 khối: Khối 8 có 3 lớp (mới tuyển), khối lớp 9 có 2 lớp, khối 10 có 1 lớp (Số học sinh của khối 9 và khối 10 được chuyển từ trường cấp 3 Hương Khê về).

Về cơ sở vật chất, có thể nói là trường “đi lên” từ tay trắng. Ngoài 10 bộ bàn ghế được chia từ trường Cấp 3 Hương Khê, trường phải mượn 10 bộ bàn ghế từ trường Cấp 2 Hoà Hải, số còn lại được làm bằng tre, nứa. Thầy, trò, phụ huynh đã dựng được ba dãy nhà tranh để “học tạm”. Lớp học được tiến hành dưới hầm để tránh bom đạn Mỹ, bảo vệ tính mạng cho học sinh. Việc đào hầm hào được tiến hành khẩn trương và thường xuyên. Đây là một yêu cầu cấp thiết được rút ra từ bài học năm 1966 có 33 em học sinh Cấp 2 Hương Phúc bị bom Mỹ sát hại. Mặc dù trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, song thầy và trò vẫn quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ năm học. Nghị quyết đầu tiên của chi bộ Đảng đã chỉ rõ: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải phấn đấu để “mẻ gang đầu” không thua các trường lớn”. Học kỳ I của năm học này, thầy và trò dạy - học trong hoàn cảnh ác liệt của chiến tranh, bài giảng nhiều lúc bị cắt ngang bởi tiếng gầm xé của máy bay Mỹ. Sang học kỳ II, Mỹ đã chấm dứt ném bom ở miền Bắc, trong hoàn cảnh mới, thầy trò tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp giảng dạy và học tập.

Năm học 1972- 1973 đã trôi qua, mặc dù trong hoàn cảnh bom đạn ác liệt, thiếu thốn đủ bề, song tập thể giáo viên, học sinh vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học. Kỳ thi tốt nghiệp năm học này 100% học sinh đậu tốt nghiệp.

Một năm học diễn ra chóng vánh, kết thúc vào lúc cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ chấm dứt. Do yêu cầu phát triển chung, trường được chuyển về địa điểm mới – xã Phương Điền.

II. CHẶNG ĐƯỜNG THĂNG TRẦM CỦA SỰ PHÁT TRIỂN: (1973 - 1994).

1. Từ 1973 đến đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX.

Ngày 27/01/1973 hiệp định Pari được ký kết, đế quốc Mỹ cút khỏi miền Nam. Mỹ đã “cút” nhưng ngụy chưa “nhào”. Sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc vẫn được tiếp tục ở tiền tuyến lớn miền Nam. Hòa bình được lập lại ở miền Bắc. Nhân dân miền Bắc nói chung và nhân dân Hương Khê nói riêng vừa hàn gắn vết thương chiến tranh, vừa chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Trong hoàn cảnh đó, để có điều kiện mở rộng quy mô, trường được chuyển về xã Phương Điền. Địa điểm mới này gần ga tàu, dân cư thưa thớt, um tùm lau lách, địa bàn cách trở. Về mùa mưa, ở đây bị lũ lụt vây quanh trở thành một “ốc đảo”. Để chuyển được trường về Phương Điền, đồng chí Bí thư Huyện uỷ Phan Văn Đệ nhiều lần không quản mệt nhọc đã cùng đoàn cán bộ nhà trường thăm dò, khảo sát tìm địa điểm để dựng trường. Sau khi chọn địa điểm, thầy trò cùng nhau bạt núi, xẻ đồi để dựng tạm lán học. Cơ sở vật chất cũng chưa có gì khác ngoài một số bàn ghế và một ít gỗ mà trường chuyển từ Hoà Hải về. Những năm học đầu tiên của thời kỳ này, phòng học bằng nhà tranh, vách đất là chủ yếu.

Năm học 1973 – 1974, trường có 9 lớp (4 lớp 8, 3 lớp 9 và 2 lớp 10). Các năm tiếp theo, quy mô của trường ngày càng lớn dần. Đầu thập kỷ 80, trường có tới 21 lớp với hơn 1000 học sinh và trên 50 cán bộ giáo viên. Học trò ở 5 xã dọc sông Ngàn Trươi (thuộc huyện Vụ Quang ngày nay) đi học phải vượt một chặng gần 30km. Hàng năm về mùa mưa lũ, việc giảng dạy và học tập gặp rất nhiều khó khăn, có khi học sinh phải nghỉ học hàng tuần. Lũ lụt không chỉ gây ảnh hưởng lớn đến việc học tập của học sinh mà còn đe dọa đến tính mạng của CBGV và học sinh. Ngày 06 tháng 11 năm 1981, tại bến đò trúc nước sông đã cướp đi 07 nữ sinh lớp 9 khi các em trên đường tới trường. Sự kiện trên đã gây chấn động lớn đối với phụ huynh học sinh, là điều đau buồn xảy ra đối với nhà trường.

Trong các năm từ 1973 đến những năm đầu thập kỷ 80, có nhiều em học sinh và giáo viên đã theo tiếng gọi Tổ quốc, tạm gác bút lên đường chiến đấu. Nhiều học sinh đã anh dũng hy sinh cho sự nghiệp thống nhất đất nước và nghĩa vụ quốc tế ở CamPuChia như: Trần Văn Lâm, Từ Xuân Vĩ... Chiến tranh buộc các em phải tạm thời xếp bút nghiên lên đường chiến đấu vì lý tưởng cao đẹp. Nhưng cũng từ trong chiến tranh nhiều em lại tiếp tục học tập, phấn đấu và trưởng thành ngay trong quân đội, như Lương Sĩ Cầm, Trần Vĩnh Tường, Trần Đình Hải, Nguyễn Hữu Bộ, Nguyễn Văn Hòa, Trần Văn Cát...

Mặc dù có nhiều khó khăn, song chất lượng dạy và học vẫn đạt kết quả cao. Kỳ thi tốt nghiệp 1973 - 1974 (tức là năm đầu tiên trường chuyển về Phương Điền), tỉ lệ học sinh của trường đậu tốt nghiệp lớp 10 là 72 %. Kết quả này so với toàn tỉnh là khá cao, bởi lúc đó tỉ lệ bình quân toàn tỉnh chỉ đạt 60%. Có nhiều học sinh thi đậu vào Đạị học, Cao đẳng. Điển hình như Lê Hoàng Lê, Ngô Đăng Quang, Phạm Văn Tạo, Đặng Văn Thuận, Phan Đình Lai, Trần Hữu Phước, Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Quốc Chương...và còn rất nhiều học sinh khác đã đậu vào các trường Đại học, Cao đẳng trong cả nước. Họ đã và đang cống hiến tài năng của mình cho quê hương, cho Tổ quốc.

Đầu thập kỷ 80, chế độ bao cấp đã bộc lộ những khó khăn, ảnh hưởng đến đời sống cán bộ, giáo viên. Chi bộ, Ban giám hiệu, Công đoàn, Đoàn trường đã tổ chức cho giáo viên, học sinh lao động gây quỹ như làm gạch, đào ao nuôi cá, làm ruộng, hợp đồng với Lâm trường trồng rừng để tỉa thông… 21 năm đóng tại xã Phương Điền, trường xây dựng bốn dãy phòng học cấp 4 và một nhà văn phòng, mua sắm thêm một số trang thiết bị để phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập. Giai đoạn này, phong trào giảng dạy, học tập, lao động diễn ra sôi nổi, năm học nào trường cũng có học sinh đậu Đại học, Cao đẳng, học sinh giỏi cấp tỉnh, tỉ lệ học sinh đậu tốt nghiệp khá cao. Nửa sau những năm 80 của thế kỷ XX, trong tình hình khó khăn chung của đất nước, trường lại gặp thêm nhiều khó khăn mới, số lượng học sinh đậu Đại học, Cao đẳng  giảm dần; số lớp giảm sút, báo hiệu thời kỳ xuống cấp nghiêm trọng.

2. Từ cuối những năm 80 đến đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX.

Từ những năm 80, tình hình đất nước lâm vào khó khăn, chế độ bao cấp không đảm bảo đời sống cho công chức nói chung và đặc biệt là cán bộ giáo viên. Thời kỳ này cũng là thời kỳ ngành giáo dục lâm vào hoàn cảnh khó khăn nhất. Quan niệm về giáo dục chưa được nhận thức đúng mức, đời sống của giáo viên cả vật chất lẫn tinh thần đều chưa được quan tâm. Quy chế chuyên môn, kỷ luật lao động bị xem nhẹ, mối quan hệ giữa phụ huynh và giáo viên thiếu sự kết hợp hài hòa. Công cuộc cải cách giáo dục được tiến hành từ tháng 1 năm 1979 đến cuối thập kỷ 80 đã có ảnh hưởng lớn đối với cơ cấu của bậc THPT. Số học sinh giảm, nhiều cán bộ, giáo viên nghỉ việc. Trong xu thế chung ấy, trường xuống cấp cả chất lẫn lượng. Năm 1981, thầy Trần Văn Ngụ chuyển về trường cấp 3 Minh Khai công tác, thầy Trần Bạch Đàn được đề bạt làm hiệu trưởng. Đến năm 1986, thầy Đàn chuyển công tác vào Nam, thầy Lê Khắc Phú được đề bạt làm Hiệu trưởng. Tình hình khó khăn của đất nước đã tác động xấu đến công tác giảng dạy và học tập. Số lớp giảm dần, từ 21 lớp đầu thập kỷ 80 đến năm học 1992 – 1993, trường chỉ còn 3 lớp (2 lớp 10, 1 lớp 11 không có lớp 12). Nhiều giáo viên xin nghỉ không lương, hoặc chuyển công tác khác. Suốt trong nhiều năm liên tục, trường không có học sinh giỏi tỉnh, số học sinh đậu Đại học, Cao đẳng rất ít. Năm 1993 trường không có học sinh dự thi Đại học (vì không có lớp 12), trường rơi vào tình trạng sắp phải giải tán.

Trước tình hình đó, năm 1991, Sở GD-ĐT Hà Tĩnh quyết định sáp nhập trường Cấp 2 Phương Điền với trường Cấp 3 Vụ Quang, nhờ đó trường vẫn được tồn tại. Như vậy kể từ năm 1991-1992 trường có nhiệm vụ đào tạo học sinh THCS và THPT. Nhiệm vụ này phải kéo dài đến năm 2001.

Giữa thập kỷ 90, sau gần 10 năm  đổi mới, đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng, dưới ánh sáng của Nghị quyết TW2, ngành giáo dục đã lấy lại thăng bằng. Cả đất nước và toàn ngành đã chuyển mình đi lên. Trong bối cảnh đó, trường không thể không tự đổi mới để đi lên.

III. TRƯỜNG CHUYỂN VỀ PHÚC  ĐỒNG - MỞ ĐẦU KHÂU ĐỘT PHÁ VỀ CHẤT VÀ LƯỢNG ( 1994 - 2001)

Năm 1992, thầy Nguyễn Văn Hoàng được bổ nhiệm hiệu trưởng. Ban giám hiệu gồm có thầy Nguyễn Văn Hoàng, thầy Đặng Đức Yên, thầy Trần Văn Hòa. Nhận thấy Phương Điền không thể là vị trí tốt cho sự phát triển, Ban giám hiệu đã tham mưu với lãnh đạo huyện và lãnh đạo ngành xin chuyển trường về xã Phúc Đồng. Ngày 25 tháng 8 năm 1993, UBND tỉnh ra quyết định số 1094/QĐ-UB sáp nhập trường PTTH Vụ Quang với trường PTTH Cấp 2 Phúc Đồng. Từ đây, trường có tên: Trường Cấp 2+3 Vụ Quang. Sau một năm xây dựng cơ sở mới, năm học 1994-1995, trường chuyển về xã Phúc Đồng tại ngã tư cũ (nay là ngã ba Phúc Đồng). Ngã 3 Phúc Đồng là vị trí trung tâm vùng hạ huyện, giao thông thuận tiện, thuận lợi cho con em đến trường. Năm học 1994-1995, trường đã có 9 lớp cấp 3, đây là dấu hiệu của sự phục hồi. Dưới sự lãnh đạo của Chi uỷ, BGH, sự phối hợp nhiệm vụ giữa Công đoàn, Đoàn trường, Đội TNTP Hồ Chí Minh, trật tự kỷ cương bước đầu được xác lập trở lại. Tình đoàn kết nội bộ giúp đỡ lẫn nhau thật sự là động lực thúc đẩy cho phong trào dạy học. Mặc dù trường chuyển về địa điểm mới nhưng điều kiện giảng dạy, đời sống cán bộ giáo viên còn gặp nhiều khó khăn, song nhà trường đã tạo điều kiện cho giáo viên nhất là giáo viên nội trú. 

Để đẩy mạnh chất lượng dạy và học, nhà trường ra sức phát huy nội lực đề ra phần thưởng thích đáng cho những giáo viên có học sinh giỏi cấp tỉnh, thực hiện chế độ thi tuyển đúng quy định, tổ chức sinh hoạt chuyên môn để trao đổi kinh nghiệm, động viên các đồng chí giáo viên tham gia các cuộc thi giáo viên giỏi cấp tỉnh để học tập và đúc rút kinh nghiệm, đầu tư mua sắm thiết bị dạy học. Kết quả bước đầu rất khiêm tốn, năm học 1995-1996, 1 em đạt học sinh giỏi tỉnh môn Hoá. Tiếp đến năm 1997-1998 có đến 12 em đạt học sinh giỏi tỉnh, sự kiện này cho thấy trường Cấp 2+3 Vụ Quang đã khởi sắc. Nếu như đầu thập kỷ 90, trường ít có học sinh đậu Đại học - Cao đẳng, thì đến năm 1997-1998 có đến 25 lượt em đậu vào Đại học - Cao đẳng – Trung học chuyên nghiệp. Đây là kết quả đáng ghi nhận sau bao nhiêu năm trường xuống dốc, giờ đây chất lượng đã được phục hồi. Theo năm tháng số lượng học sinh tăng dần. Năm học 2000 – 2001, sau 6 năm trường về Phúc Đồng, số lượng lớp tăng lên hơn 2 lần (từ 9 lớp lên 23 lớp THPT), trong đó có 6 lớp bán công, 17 lớp công lập và 12 lớp THCS. Học sinh giỏi từ năm 1996 – 2001 đều đạt kết quả cao. Năm học 2000 – 2001, môn Địa Lý dẫn đầu toàn tỉnh về giải đồng đội, môn Lịch Sử khối 12 đứng thứ nhì giải đồng đội, khối 11 đứng thứ 7. Những thành tích ấy tuy còn khiêm tốn song đó là nguồn động viên đối với tập thể cán bộ giáo viên và học sinh. Có được những thành tích ấy là nhờ sự lãnh đạo của chi bộ Đảng, sự năng động sáng tạo của BGH trong việc đề ra phương hướng nhiệm vụ, biện pháp của từng năm học, khuyến khích động viên tập thể giáo viên và luôn luôn quan tâm đến việc bồi dưỡng thế hệ trẻ, mạnh dạn giao nhiệm vụ chuyên môn, công tác Đoàn, Đội, cho những giáo viên trẻ, có năng lực và tâm huyết. Năm học 1998 – 1999, có 3 đồng chí tham gia thi giáo viên giỏi cấp tỉnh. Kết quả là có 2 giáo viên được công nhận.

Song song với việc bồi dưỡng chuyên môn, Chi bộ, BGH, Công đoàn còn quan tâm bồi dưỡng chính trị cho thế hệ trẻ. Hàng năm, chi bộ kết nạp thêm quần chúng vào hàng ngũ của Đảng. Năm 1972, Chi bộ chỉ có bốn đảng viên, đến năm 2012, chi bộ có tới 42 đảng viên và liên tục nhiều năm được công nhận chi bộ “trong sạch vững mạnh”.

Công đoàn đã thực hiện tốt cuộc vận động “Kỷ cương – tình thương – trách nhiệm”, góp phần vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập, giảm bớt các tệ nạn xã hội. Thường xuyên thăm hỏi ân cần, giúp đỡ các đồng nghiệp có hoàn cảnh khó khăn. Công đoàn thực sự là tổ ấm tình thương của đơn vị. Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên là lực lượng tiên phong trong việc đẩy mạnh, xác lập trật tự kỷ cương, nền nếp học tập và các hoạt động khác của học sinh, giáo dục tinh thần phòng chống các tệ nạn xã hội. Liên tục trong nhiều năm (từ năm 2003-2007) Đoàn trường được tỉnh Đoàn và TW Đoàn tặng bằng khen. Trong nhiều năm, trường phát động giáo viên, học sinh tham gia sôi nổi các cuộc thi tìm hiểu về dân số, môi trường, tìm hiểu về Đảng, về Bác Hồ. Để tạo không khí vui chơi lành mạnh, hàng năm, đến ngày lễ lớn trường tổ chức giao lưu với các cơ quan, trường học trong huyện. Những hoạt động đó làm gắn bó thêm tình đoàn kết giữa giáo viên của trường và các đơn vị bạn.

Mặc dù trường chuyển về địa điểm mới, song hàng năm vẫn chịu sự đe dọa của thiên nhiên. Trận lũ năm 1996 đã làm gián đoạn việc dạy và học trong nhiều ngày.

Trong 6 năm (từ năm 1994-2000) số lượng học sinh tăng nhanh, năm học 1999 – 2000 trường đã có 22 lớp cấp 3, 10 lớp cấp 2, chất lượng giáo dục ngày càng đựơc nâng cao. Trường đã xây dựng thêm CSVC, đảm bảo cho việc dạy và học, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của con em nhân dân. Ban lãnh đạo lại phải tính kế tìm địa điểm mới để chuyển trường nhằm đi vào thế ổn định và phát triển toàn diện, lâu dài.

IV. GIAI ĐOẠN TỪ  NĂM 2001-2012

Sau nhiều lần khảo sát, tính toán, lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo ngành, lãnh đạo huyện và nhà trường quyết định chuyển trường về thôn 12 xã Phúc Đồng cách ngã tư cũ (ngã 3 mới hiện nay) 1km về phía Nam. Đây là một vùng đất cao, rộng tránh được lũ lụt. Sau 2 năm vừa học vừa xây dựng, một ngôi nhà mới 3 tầng được hoàn thành. Năm 2000 – 2001, học sinh THPT chuyển đến trường mới, học sinh THCS học ở trường cũ, trường phải tách ra 2 phân hiệu nhưng chung một chi bộ, 1 hội đồng và trường vẫn mang tên “Trường Cấp 2+3 Vụ Quang”. Năm 2000 một sự kiện quan trọng của tỉnh nhà có liên quan đến trường đó là tỉnh Hà Tĩnh thành lập thêm một huyện mới - huyện Vụ Quang. Năm 2000, huyện Vụ Quang thành lập trường THPT mang tên trường THPT Vụ Quang. Trong bối cảnh đó trường Cấp 2 – 3 Vụ Quang phải đổi tên gọi. Sau nhiều lần thảo luận, ngày 5/9/2001, UBND Tỉnh quyết định đổi tên trường Cấp 2 + 3 Vụ Quang thành “trường THPT Hương Khê II” và cũng từ đây cấp THPT và THCS cũng được tách ra.

Như vậy từ ngày 5/9/2001, trường mang tên mới là trường THPT Hương Khê II. Sau 10 năm tiến hành 2 nhiệm vụ đào tạo học sinh THPT và THCS nay trường chỉ thực hiện 1 nhiệm vụ đào tạo học sinh THPT cho vùng hạ huyện. Năm 2003, theo nguyện vọng của cán bộ - giáo viên – học sinh, trường được đổi tên là trường THPT Hàm Nghi (Tại Quyết định số 3180/2003/QĐUB ngày 30 tháng 12 năm 2003 của UBND Tỉnh Hà Tĩnh).

Trong thế ổn định lâu dài, thầy – trò tiếp tục phát huy truyền thống của trường và đạt nhiều thành tích tốt đẹp. Năm học 2001 – 2002 có 3 giáo viên được Sở GD-ĐT công nhận giáo viên giỏi cấp tỉnh, đội tuyển HSG Toán đứng thứ 6 giải đồng đội toàn tỉnh. Cũng trong năm học này có 362 học sinh thi tốt nghiệp lớp 12 trong đó có 357 em trúng tuyển đạt tỷ lệ 99%...Năm học 2007-2008, trường có 35 lớp với 1802 học sinh. Những kết quả trên tuy còn khiêm tốn nhưng đáng tự hào.

Năm 2005, thầy Đoàn Minh Điền được bổ nhiệm Phó hiệu trưởng thay cho thầy Trần Văn Hòa nghỉ hưu theo chế độ. Năm 2008, thầy Đoàn Minh Điền được bổ nhiệm Hiệu trưởng thay thầy Nguyễn Văn Hoàng; thầy Trần Trọng Thanh và cô Bùi Thị Hồng Nga được bổ nhiệm phó Hiệu trưởng; thầy Đặng Đức yên nghỉ hưu theo chế độ.

Dưới sự lãnh đạo của chi bộ, sự năng động sáng tạo của BGH, sự nỗ lực không biết mệt mỏi của tập thể CBGV cùng với sự vươn lên của học sinh và sự giúp đỡ của Ban đại diện cha mẹ học sinh nhà trường tiếp tục phát triển. Tỷ lệ học sinh đậu tốt nghiệp ngày càng cao, năm học 2010 – 2011, 100% học sinh khối 12 đậu tốt nghiệp; học sinh đậu Đại học, Cao đẳng đứng thứ 26/41 trường, học sinh giỏi tỉnh đứng thứ 24/41 trường trong toàn tỉnh năm 2011-2012, 1 em đậu giải nhất môn GDCD. Đặc biệt trong 4 năm liền (từ năm 2009 – 2012) trường liên tục đạt danh hiệu Trường tiên tiến.

Qua 40 năm xây dựng, trường trải qua bao nổi thăng trầm: 3 lần chuyển dời địa điểm, 3 lần đổi tên, nay trường đã đi vào ổn định và phát triển. Hiện nay trường có 31 lớp, hơn 1450 HS, 79 cán bộ giáo viên, với một hệ thống CSVC khang trang, thoáng mát. Nhiều mặt trong lĩnh vực chuyên môn đã đạt được những kết quả thật đáng tự hào 40 năm qua, các thế hệ thầy cô giáo đã có công vun đắp cho trường lớn mạnh. Từ khi thành lập đến nay có hơn 257 thầy, cô giáo đã và đang công tác tại trường; trường đã đào tạo hơn 12 000 học sinh bậc THPT, hơn 600 học sinh THCS và hàng ngàn học sinh đậu vào ĐH, CĐ, THCN. Có nhiều học sinh đã trở thành các nhà khoa học, nhà văn, nhà giáo, nhà báo, nhiều người đã và đang tham gia lãnh đạo, quản lý trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế văn hoá, quân sự, an ninh trên khắp mọi miền đất nước; nhiều em là học sinh của trường nay trở lại với tư cách là đồng nghiệp.

Đất nước đã đổi thay, công cuộc đổi mới của Đảng đòi hỏi sự nghiệp “trồng người” phải có nhiều cố gắng hơn nữa để cung cấp nguồn lực cho đất nước, trường THPT Hàm Nghi vinh dự đã đóng góp một phần vào sự nghiệp đó. Phía trước còn đầy thử thách, song tập thể cán bộ giáo viên, học sinh của trường quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ xứng đáng với niềm tin của Đảng và nhân dân, thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt, học tốt”.

Trong suốt 40 năm xây dựng và trưởng thành, có được những kết quả trên trước hết cã sự chỉ đạo của Sở GD & ĐT, của Huyện Ủy, HĐND, UBND huyện.
- Nhân dân Hương Khê có truyền thống hiếu học. Dù khó khăn gian khổ, nhưng cha mẹ học sinh vẫn quyết tâm tạo điều kiện cho con em đến trường "chung lưng đấu cật" cùng nhà trường xây dựng cơ sở vật chất.
- Sự đoàn kết, bãn lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng của Cấp ủy, BGH, đội ngũ nhà giáo.
- Nhờ sự giúp đỡ của các cá nhân, cơ quan, ban ngành, đoàn thể, các cựu CB - GV- học sinh của trường.

Trong thời gian trước mắt, trường THPT Hàm Nghi tập trung xây dựng cơ sở vật chất, nâng cao chất lư­ợng dạy học tốt hơn nữa, phấn đấu hoàn thành tr­ường chuẩn quốc gia giai đoạn I, xứng đáng là địa chỉ tin cậy cho Đảng bộ và nhân dân Hương Khê.
 

                                                            Hương Khê, ngày 10/6/2012

Tác giả bài viết: ĐOÀN MINH ĐIỀN - Bí thư chi bộ, Hiệu trưởng