Thời điểm con trẻ chuẩn bị bước vào lớp 1 cũng là lúc các bậc cha mẹ có rất nhiều lo lắng. Trong số đó phải kể đến nỗi lo con khó làm quen với môi trường mới, lo con không theo kịp các bạn. Vì vậy, nhiều phụ huynh lựa chọn cho trẻ học trước chương trình lớp 1. Tuy nhiên, cho trẻ học trước chương trình lớp 1 có nên không và tác hại mang lại là gì? Sau đây chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về vẫn đề này

1.Thực trạng cho trẻ học trước chương trình lớp 1

      Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, thông thường khoảng tháng 7 hằng năm các trường Tiểu học sẽ bắt đầu tổ chức tuyển sinh, và trẻ chính thức bước vào chương trình học vào tháng 9. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian này, thậm chí là trước đó, thay vì tạo cho con tâm lý thoải mái, gần gũi trò chuyện, hướng dẫn con trước khi bước vào một môi trường mới, nhiều bậc phụ huynh lại lựa chọn đăng kí cho con các lớp học đọc, học viết, tập tính, hoặc mời gia sư về kèm riêng, cho trẻ học trước chương trình lớp 1.

      Thực trạng phụ huynh lo lắng cho con đi học sớm xuất phát từ nhiều lý do

 - Lý do đầu tiên, là muốn con làm quen với môi trường mới. Môi trường mầm non chủ yếu các con được chăm sóc, vui chơi, khác với môi trường tiểu học, nơi các con bắt đầu làm quen với việc học kiến thức và có nền nếp, kỉ luật. Bước vào lớp 1, các con bắt đầu cần tự chăm sóc bản thân, tự lập hơn. Vì vậy, để con khỏi bỡ ngỡ, cho con học trước chương trình lớp 1 là một lựa chọn của các bậc phụ huynh.

- Thứ hai, là tâm lý sợ con không theo kịp các bạn. Ban đầu chỉ có một vài trẻ có khả năng tiếp thu sớm hơn, hoặc một vài trẻ học trước chương trình. Khi con học cùng với các bạn như vậy, cha mẹ lo lắng con khó theo kịp, dễ nảy sinh áp lực hoặc tâm lý chán nản, gây ảnh hưởng đến cả quá trình học tập sau này của con. Từ đó, các bậc phụ huynh ngày càng cho con đi học trước khi bước vào lớp 1 nhiều hơn.

- Thứ ba, sĩ số lớp ở bậc tiểu học thường đông hơn so với các lớp mầm non. Do đó, cha mẹ cho rằng con sẽ ít được quan tâm hơn. Khi đi học các lớp trước chương trình, lớp ít học sinh phần nào giúp cha mẹ cảm thấy yên tâm vì con được kèm cặp kĩ hơn.

- Thứ tư, là do ảnh hưởng của “trào lưu”, “phong trào”, khi cha mẹ thấy xung quanh mình các gia đình khác đều cho con theo học lớp học trước chương trình; hoặc mong muốn con có điểm số “đẹp”, làm “đẹp” hồ sơ, thành tích ngay từ những buổi đầu của quá trình học tập.

- Thứ năm, cũng chiếm một phần không nhỏ, là vì nhiều phụ huynh quá bận rộn, không có thời gian để cùng con chuẩn bị hành trang, tâm lý khi vào lớp 1. Cùng với suy nghĩ các thầy cô có chuyên môn sư phạm sẽ có phương pháp tốt nhất cho con, nên cha mẹ gửi gắm con tới các lớp học trước chương trình lớp 1.
Với các lý do kể trên, không khó để hiểu được vì sao ngày càng nhiều gia đình cho trẻ học trước chương trình lớp 1. Không chỉ ở những thành phố lớn, “xu hướng” này đang dần mở rộng tới hầu khắp các khu vực trên cả nước.

2.Tác hại của việc cho trẻ học trước chương trình lớp 1

Bàn luận về vấn đề này, thầy Lê Đức Dũng, nguyên Hiệu trưởng Trường Tiểu học Xuân Trường (Cẩm Mỹ, Đồng Nai) - người có hơn 40 năm kinh nghiệm trong nghề dạy học, với tâm huyết của mình cho sự nghiệp giáo dục, thầy chia sẻ quan điểm của mình như sau: Chương trình cho học sinh lớp 1 được thiết kế có khoảng một tuần đầu tiên giúp học sinh làm quen với nền nếp, kỉ luật trong lớp học, nhà trường, các thầy cô sẽ trực tiếp chỉ dạy và kèm cặp trẻ. Tiếp đó, học sinh được làm quen với thầy cô, bạn bè, các thói quen trong sinh hoạt, cũng như nội quy trường lớp. Thầy cô sẽ hướng dẫn trẻ cách sắp xếp và lấy sách vở, cách cầm bút, tư thế ngồi học, cách trả lời khi được mời phát biểu. Bất kỳ trường tiểu học nào cũng sẽ dạy những kỹ năng đó, vì vậy phụ huynh không nên lo lắng sợ con khó làm quen. Đến tuần học thứ hai, học sinh được làm quen với những nét viết cơ bản như nét khuyết, nét móc...cấu tạo nên chữ cái. Sau hai tuần làm quen như vậy, các em bắt đầu được thầy cô giới thiệu từng chữ. Dựa vào chương trình dạy học này, trẻ có thể làm quen và thích nghi tốt với môi trường học tập mà không cần học trước chương trình.

Tiếp tục với ý kiến trên, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Mầm non - Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Bá Minh cũng cho rằng tác hại của việc cho trẻ học trước chương trình lớp 1 là không nhỏ.

Cho trẻ học trước chương trình lớp 1 là phản khoa học, lợi bất cập hại. Theo ông Minh, các nhà khoa học, tâm lý, giáo dục đã nghiên cứu và chỉ ra: 6 tuổi là độ tuổi phù hợp nhất để trẻ bắt đầu bước vào lớp 1. Đây là thời điểm mà các yếu tố về thể lực, kĩ năng, tâm lý của trẻ sẵn sàng nhất để bước vào một giai đoạn phát triển mới. Việc cho trẻ học trước chương trình lớp 1, khi các bộ phận chức năng của cơ thể chưa được hoàn thiện đầy đủ như hệ thần kinh phát triển chưa toàn diện, hệ thống cơ - khớp, xương tay còn yếu, khả năng chịu đựng của thị giác khi phải tập trung nhìn chưa được bền, thời gian trẻ có thể tập trung vào thực hiện một nhiệm vụ cụ thể còn quá ngắn,... dễ dẫn đến căng thẳng, mệt mỏi, ảnh hưởng không tốt đến quá trình phát triển tâm - sinh lý của trẻ sau này. Bên cạnh đó, nếu người dạy không có chuyên môn hoặc phương pháp sư phạm phù hợp, dễ hình thành những thói quen hoặc nhận thức chưa đúng ở trẻ. Lúc này, việc chỉnh sửa lại cho trẻ khi chính thức bước vào lớp 1 sẽ khó khăn hơn rất nhiều.

          Nói về tác hại của việc cho trẻ học trước chương trình lớp 1, ngoài những ý kiến trên, một số chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục còn đưa ra các luận điểm như:

- Trẻ học trước, biết trước nên khi bước vào lớp 1 sẽ dễ chủ quan, không chú ý. Có thể thời gian đầu, trẻ tỏ ra vượt trội hơn so với các bạn, giúp cha mẹ thấy yên tâm. Tuy nhiên, dần dần, trẻ sẽ giảm hứng thú, không có động lực cố gắng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự tiếp thu kiến thức, mà còn tác động không tốt tới nhận thức, suy nghĩ của trẻ.
- Các trường Tiểu học không tổ chức các kì thi tuyển cho học sinh khi bước vào lớp 1. Cùng với đó, việc đánh giá kết quả học tập cũng đang được hướng tới khuyến khích, động viên, tạo hứng thú học tập cho trẻ, không xem nặng con số. Vì vậy, không có lý do gì để phụ huynh phải lo ngại về kết quả học tập trên hồ sơ, mà cần chú trọng hơn tới tâm lý, thái độ tiếp thu của con.

>>Các chuyên gia đưa ra khái niệm “hiệu ứng năm thứ ba” - là hiện tượng các trẻ học trước chương trình lớp 1 bắt đầu có biểu hiện giảm sút học lực khi bước vào lớp 3. Nguyên nhân là do ở lớp 3, chương trình học sẽ có nhiều điểm mới, mà các trẻ học trước chương trình lớp 1 chưa được học. Nhưng bởi sẵn có tâm lý chủ quan, cùng hệ quả của phương pháp giáo dục chưa phù hợp mà trẻ khó làm quen và tiếp thu. Ở lớp mầm non, giáo dục chủ yếu là cho trẻ quan sát và thực hành thông qua các trò chơi. Còn ở bậc tiểu học, trẻ cần học, nhớ thông qua các suy luận và tư duy hình ảnh. Do vậy, việc cho trẻ học trước chương trình lớp 1 là hành động đốt cháy giai đoạn, bỏ bước trong quy trình giáo dục.

Với những lý do kể trên, các nhà giáo dục không đồng ý với quan điểm cho trẻ học trước chương trình lớp 1. Thay vào đó, các chuyên gia khuyên rằng, thay vì quá chú trọng trang bị kiến thức - điều mà chắc chắn trẻ sẽ được học khi vào lớp 1, cha mẹ nên chuẩn bị cho con tâm lý thoải mái, vui vẻ, tạo hứng thú cho con đối với môi trường trường học. Bên cạnh đó, cha mẹ cũng cần hướng dẫn trẻ cách tự chăm sóc: tự ăn cơm, tự thay đồ, tự chải răng, tự sắp xếp sách vở,... hay cách biểu lộ cảm xúc, cách biểu thị ý nghĩ thông qua lời nói sao cho trôi chảy, dễ hiểu,... Những kĩ năng này là cực kì cần thiết khi trẻ vào lớp 1, được hình thành và rèn luyện thông qua sự phối hợp của gia đình và nhà trường, trong một thời gian không hề ngắn. Thông qua việc rèn luyện cho con, cha mẹ còn trở nên gần gũi, thân thiết và hiểu con hơn, trở thành người bạn của con trong những bước đầu tiên trên con đường học tập và cuộc sống.

3. Chương trình giáo dục mầm non.

Trong chương trình giáo dục mầm non, ở độ tuổi 5-6 tuổi trẻ đã được làm quen với chữ cái và số. Chương trình được sắp xếp khoa học từ dễ đến khó từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của trẻ. Trẻ mầm non 5-6 tuổi sẽ được làm quen với các chữ cái và số thông qua các trò chơi, thông qua các bài tập đơn giản phù hợp với kỹ năng của trẻ trong độ tuổi.

Dưới đây là ví dụ về chương trình giáo dục mầm non , lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6t

  1. *Tháng 9, 10:
  2. Hoạt động học:
  3. - Tháng 9:
  4. +/Thơ: Gà học chữ; Bập bênh; Tình bạn; Bó hoa tặng cô; Cô giáo lớp em;Mẹ và cô; Cô dạy; Bé học toán.
  5. Trăng ơi từ đâu đến , rước đèn tháng tám, Trăng sáng; Vui trung thu.
  6. +/Truyện: Người bạn tốt;Bạn mới; Thỏ con chưa làm được điều tốt; Thỏ trắng biết lỗi; Mèo con và quyển sách; Bài học đầu năm; Món quà của cô giáo; Câu chuyện của giấy kẻ; Cái gì thế nhỉ; Mèo con biết lỗi; bài học đầu tiên của Gấu.
  7. +/Đồng dao: Dung dăng dung dẻ.
  8. +/LQCV:
  9. - LQCC: o-ô-ơ.
  10. - Trò chơi chữ cái:o-o-ơ.
  11. - Tập tô chữ cái: o,ô,ơ
  12. Tháng 10:
  13. +/Thơ: Tình bạn; Tay ngoan; Lời chào; Tâm sự của cái mũi; Bé ơi;Đôi mắt của em; đôi bàn tay bé; Cháu vẽ; Mẹ của em; ngôi nhà; Chia bánh; Cháu yêu bà. Đôi mắt của em; Lời chào; Tâm sự của cái mũi; Bé ơi; Giữa vòng gió thơm; Làm anh; Chia bánh; Thương ông; Quạt cho bà ngủ; Bát, đũa và thìa; Cái bát xinh xinh, Niềm vui của con mèo, con yêu mẹ.!.
  14. +/Truyện: Ba cô gái; giấc mơ kì lạ; Câu chuyện của tay trái, tay phải; Bàn tay có nụ hôn; Hai anh em; Bạch tuyết và bảy chú lùn. Đôi tai xấu xí; Hai anh em gà con; Khách đến nhà.
  15. +/LQCV:
  16. - LQCC: a,ă,â
  17. - Trò chơi chữ cái: a,ă,â
  18. - Tập tô chữ cái : a,ă,â
  19. - LQCC: e,ê
  20. Hoạt động khác: - Quan sát, trò chuyện về các khu vực, các hoạt động của lớp, trường.
  21. Nhận ra kí hiệu thông thường: nhà vệ sinh, nơi nguy hiểm, lối ra - vào, cấm lửa, biển báo giao thông...
  22. - Chú ý lắng nghe và nêu được ý kiến nhận xét về người đang đàm thoại với mình
  23. - Kể chuyện về một sự kiện diễn ra trong lớp, trong trường.
  24. Sử dụng lời nói trong cuộc sống hằng ngày:
  25. - Kể rõ ràng, có trình tự về sự việc, hiện tượng nào đó để người nghe có thể hiểu được.
  26. - Sử dụng các từ chỉ sự vật, hoạt động, đặc điểm,… phù hợp với ngữ cảnh.  
  27. - Đàm thoại, trò chuyện xem video,hình ảnh, tranh, sách báo,… về trường mầm non, tết trung thu, lớp học của bé, bản thân, ngày 20/10, gia đình, những đồ dùng trong gia đình bé.
  28. - Sử dụng các từ: cảm ơn, xin lỗi. xin phép, thưa, dạ, vâng… phù hợp với tình huống.
  29. - Đọc thơ, kể chuyện qua tranh về trường lớp, tình bạn, bản thân, gia đình,…
  30. -  Đồng dao, ca dao: Thằng bờm, chú Cuội.
  31. Đọc biểu cảm bài thơ, đồng dao, cao dao…
  32. - Kể chuyện sáng tạo, kể chuyện theo tranh về đồ chơi, đồ dùng
  33. - Làm bưu thiếp, làm sách về trường, lớp, cô giáo, các bác, các cô trong trường mầm non, về bản thân, gia đình, đồ dùng gia đình,…
  34. - Làm quen với việc đọc - viết:  Chọn sách để “đọc” và xem.
  35.  - Tìm, gạch chân các nét chữ viết qua các từ, tên các góc chơi, tên các bạn trong lớp.
  36. - Thực hiện được các yêu cầu trong hoạt động tập thể, ví dụ: “Các bạn có tên bắt đầu bằng chữ cái T đứng sang bên phải, các bạn có tên bắt đầu bằng chữ H đứng sang bên trái”. Cắt, dán, bổ sung những chữ cái còn thiếu trong tên của mình và của bạn.
  37. - Hiểu nghĩa từ khái quát: Đồ dùng gia đình
  38. - Trò chuyện về ngày sinh nhật của bé.
  39. - Trò chơi đóng kịch “Đôi tai tôi xấu xí; Gấu con đau răng”.
  40. - Làm truyện tranh về các giác quan về những gì bé thích, môi trường xanh - sạch - đẹp, chất dinh dưỡng dành cho cơ thể.
  41. - Tự kể và giới thiệu về mình, những người thân gần gũi. Bày tỏ nhu cấu mong muốn của mình.
  42. Sử dụng các từ chỉ sự vật, hoạt động, đặc điểm,… phù hợp với ngữ cảnh.  
  43. - Kể chuyện nối tiếp và kể chuyện theo tranh
  44. *Tháng 11, 12:
  45. Hoạt động học:
  46. - Tháng 11:
  47. +/Thơ: Chiếc cầu mới ; Hạt gạo làng ta; Cô giáo của em; Nghe lời cô giáo; Làm nghề như bố; Ước mơ của Tý; làm bác sỹ; Gạch đỏ; Bát, đũa và thìa; Cô giáo của em.
  48. +/Truyện: Ba cô gai; Hai anh em; Hai anh em gà con; Ba cô gái; quả bầu tiên, vâng lời mẹ dặn, người đưa thư, những chiếc áo ấm;Chú Đỗ con.
  49. +/LQCV:
  50. -Trò chơi chữ cái: e,ê
  51. -Tập tô chữ cái: e,ê.
  52. - LQCC: u,ư.
  53. -Trò chơi chữ cái: u,ư.
  54. Tháng 12:
  55. +/Thơ: Ước mơ của Tý; Chú bộ đội hành quân trong mưa; Gà mẹ đếm con; Làm bác sỹ; Bé làm hoạ sĩ; Ước; Làm nghề như bố; Bé làm bao nhiêu nghề; Chú bộ đội; Đi cày. Mèo đi câu cá; Gà nở; Rong và cá; Nàng tiên ốc; Vè loài vật; Nàng tiên ốc; bò tìm bạn.
  56. Đồng dao “ hỏi tuổi”; Con cua mà có 2 càng; Hổ trong vườn thú; Sóc nhặt hạt dẻ; …
  57. +/Truyện: Bé hành đi khám bệnh, bác sĩ chim,Những nghệ sĩ rừng xanh; Cuộc phưu liu của những chú gà nhí; Cuộc thi bơi của tôm, cá, cua; Cá cầu vồng can đảm; Nàng công chúa ngủ trong rừng; Gà trống choai và hạt đậu; Vẽ chân dung mẹ
  58. +/LQCV:
  59. - Tập tô chữ cái: u,ư
  60. - LQCC: i,t,c
  61. - Trò chơi chữ cái: i,t,c.
  62. - Tập tô chữ cái: i,t,c.
  63. - LQCC: b,d,đ
  64. Hoạt động khác:
  65.  - Trò chuyện, đàm thoại về các kiểu nhà ở, công việc, nghề nghiệp của bố mẹ, ngày 20/11, ước mơ của bé, thế giới động vật và ngày noel.
  66. - Làm sách về các kiểu nhà ở nhà của bé, động vật,các nghề, sản phẩm các nghề, thầy cô, noel…
  67. - Tô, đồ chữ  cái đã học.
  68. - Tìm những chữ cái đã học.
  69. - Trò chuyện, mô tả một số đặc điểm đặc trưng nổi bật của một số nghề gần gũi.
  70. Sử dụng các từ chỉ sự vật, hoạt động, đặc điểm,… phù hợp với ngữ cảnh.  
  71. - Thảo luận, kể lại những điều đã biết, đã quan sát được về một số nghề.
  72. - Miêu tả sự việc với một số thông tin về hành động, tính cách, trạng thái,  ... của nhân vật.
  73. - Lắng nghe và nhận xét ý kiến của người đối thoại.
  74. - Điều chỉnh giọng nói phù hợp với ngữ cảnh.
  75. - Tìm, gạch chân, khoang tròn, nối những chữ cái đã học.
  76. - Kể về một số nghề gần gũi, quen thuộc (qua tranh ảnh).
  77. - Sao chép các từ theo tên gọi các nghề, người làm nghề, sản phẩm các nghề, tên các con vật, món ăn yêu thích, nơi ở,….
  78. Tô, đồ các nét chữ, sao chép một số kí hiệu, chữ cái, tên của mình.
  79. - Dùng được câu đơn, câu ghép, câu khẳng định, câu phủ định, câu mệnh lệnh,.. 
  80. - Trả lời các câu đố về các nghề, động vật.
  81. Hướng dẫn trẻ đọc sách, xem sách: Biết cách “đọc sách” từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, từ đầu sách đến cuối sách.
  82. - Kể truyện theo tranh minh họa và kinh nghiệm của bản thân.
  83. - Đóng kịch, đọc diễn cảm các bài thơ, câu truyện,….
  84. Đóng được vai của nhân vật trong truyện
  85. Kể có thay đổi một vài tình tiết như thay tên nhân vật, thay đổi kết thúc, thêm bớt sự kiện... trong nội dung truyện.
  86. * Đồng dao: đồng dao nói ngược.
  87. Đọc biểu cảm bài thơ, đồng dao, cao dao…
  88. - TC: Tôi còn thiếu chữ cái nào?; Cửa hàng bán hoa; Tìm các chữ cái; Kể đủ 3 thứ; Dọn về nhà mới.
  89. *Tháng 1, 2:
  90. Hoạt động học:
  91. - Tháng 1:
  92. +/Thơ:  Họ nhà cam quýt; Hoa kết trái; Lúa mới; Hoa cúc vàng; Ăn quả; Hạt gạo làng ta; Hoa kết trái; Lời chào của hoa; Rau ngót, rau đay; Hoa bưởi.Cây gạo; Cây dừa; hoa kết trái.
  93. +/Truyện: Những nghệ sĩ rừng xanh; Chuyện của dê; Chim thợ may;  Tại sao gà trống gáy; Bài học tốt; Bảy con quạ; Cây tre trăm đốt; Sự tích cây vú sữa; Sự tích hoa hồng; Câu chuyện của  hoa Phù Dung; Sự tích cây khoai lang; Chuyện của cây phù dung. Cây khế, Cây vú sữa; Quả bầu tiên; Thần lúa; Mai an tiêm ; Qua đường …
  94.  +/LQCV
  95. - Trò chơi chữ cái: b,d,đ.
  96. -Tập tô chữ cái: b,d,đ
  97. - LQCC: m,n,l.
  98. - Trò chơi chữ cái: m,n,l.
  99. - Tháng 2:
  100. +/Thơ: Hoa đào, hoa mai; Mùa xuân; Cây đào; Tết đang vào nhà;  
  101. +/Truyện: Sự tích bánh trưng bánh dày; thần lúa; Chuyện thần kì của mùa xuân; Sự tích cây nêu ngày tết; Sự tích mùa xuân,…
  102. +/LQCV:
  103. - Tập tô chữ cái: m,n,l
  104. - LQCC: h,k.
  105. - Trò chơi chữ cái: h,k.
  106. Hoạt động khác:
  107. - Trò chuyện mô tả các bộ phận và một số đặc điểm nổi bật, rõ nét của một số con vật gần gũi
  108. - Thảo luận, kể lại những điều đã quan sát được từ các con vật.
  109. - Làm sách tranh về các con vật.
  110. - Đọc đồng dao “Vè loại vật”
  111. - Đoán câu đố về các con vật.
  112. - Dán con vật thích hợp vào môi trường sống của chúng.
  113. - Ghép vần theo tên gọi của các con vật.
  114. - Dán tranh nội dung câu chuyện và tô màu.
  115. - Đóng kịch “Cá cầu vồng”. Kể chuyện theo tranh “Bể cá cảnh nhà em”. Cây khế, Cây vú sữa; Quả bầu tiên; Sự tích cây khoai lang; Thần lúa; …
  116. - Trò chuyện về một số cây, rau, của, quả, hoa, cây lương thực.
  117. - Mô tả và gọi tên các bộ phận, đặc điểm nổi bật một số loại cây và rau, hoa, quả.
  118. - Phát âm các từ có phụ âm cuối.
  119. - Nối chữ cái đã học: n,l,m; b,d,đ.
  120. - Mô tả, kể chuyện sáng tạo về một buổi tham quan vườn cây, thời tiết mùa xuân, không khí Tết dương lịch.
  121. - Giải đố các loại hoa quả.
  122. - Đọc đồng dao “Vè trái cây”.
  123. - Dán hình ảnh biểu thị những điều kiện sống của cây.
  124. - Làm bộ sưu tập về các loại hoa (ép khô).
  125. - Tìm các chữ cái đã học trong các từ về thế giới thực vật.
  126. - Thực hành viết câu đối ngày tết.
  127. - TC: Cửa hàng bán hoa; Tôi còn thiếu chữ cái nào?; Hãy nói nha; Kể đủ 3 thứ; Đoán xem còn thiếu chữ nào?; Bỏ lá; Tìm các chữ cái trong tên các loại rau - quả; Cánh cửa kì diệu; Tìm đúng tên tôi; Hãy nghe và xem tôi thiếu chữ gì?; Tìm chữ cái trong từ.
  128. *Tháng 3, 4:
  129. Hoạt động học:
  130. - Tháng 3:
  131. +/Thơ: Cô dạy em; Bó hoa tặng cô; Cây gạo; Cây dừa; Tiếng động quanh em; Chú cảnh sát giao thông; Con đường của bé; Đàn kiến nó đi;  Trên đường ; Đèn giao thông, Chiếc xe lu,Chú công an nhỏ, Thuyền giấy; Trên đuờng; tiếng còi tầu; Nắng bốn mùa; Bình minh trong vườn; Mùa xuân; Mùa thu sang; mùa xuân.
  132. +/Truyện: Qua đường; Giấc mơ kì lạ; Chuyến đi xa của chú chuột nhỏ; Chiếc đầu máy xe lửa nhỏ tốt bụng; Gấu con đi xe đạp, Ai quan trọng hơn; Kiến thi an toàn giao thông; Xe đạp con trên đường phố; Những tấm biển biết nói
  133. +/LQCV:
  134. - Tập tô chữ cái: h,k.
  135. - LQCC: p,q
  136. - Trò chơi chữ cái: p,q.
  137. - Tập tô chữ cái: p,q.
  138. - LQCC: g,y
  139. - Tháng 4:
  140. +/Thơ:  Gió từ tay mẹ; Cầu vồng; Bình minh trong vườn; Quê em vùng biển; Cảnh đồng quê; Đảo;. Gió, mưa rơi, nắng, che mưa cho bạn, cầu vồng, mây và gió, sao lấp lánh, thỏ con và mặt trăng, mưa, trưa hè; nắng bốn mùa.
  141. +/Truyện: Cô mây; Cô con út của ông mặt trời; Sự tích con rồng cháu tiên; Sự tích thần núi Tả Viên; Sơn Tinh, Thủy Tinh; Thần lửa; Truyền thuyết Lạc Long quân và Âu cơ; Cô mây; Giọt nước tí xíu; Sự tích ngày và đêm; Nàng tiên bóng đêm; Câu chuyện về giọt nước,
  142. +/LQCV:
  143. - Trò chơi chữ cái: g,y.
  144. - Tập tô chữ cái: g,y.
  145. - LQCC: s,x
  146. Hoạt động khác:
  147. - Nghe và phân tích tiếng động cơ (to – nhỏ) của các loại phương tiện giao thông khác nhau.
  148. - Làm quen một số kí hiệu giao thông quen thuộc.
  149. - Làm sách tranh về giao thông.
  150. - Quan sát các loại phương tiện giao thông, đặt và trả lời câu hỏi “Tại sao?”; “Có gì giống nhau?”; Có gì khác nhau?”.
  151. - Nghe câu chuyện “Một phen sợ hãi”; “Qua đường”. Trò chuyện về ngày 8/3, ngày giỗ tổ Hùng Vương, nước và hiện tượng tự nhiên,…
  152. - Đọc sách, làm sách tranh về các nguồn
  153. nước,vòng tuần hoàn của nước các hiện tượng tự nhiên,…
  154. - Quan sát
  155. - Kể chuyện sáng tạo.
  156. - Chọn và phát âm những chữ cái trong từ ghép.
  157. - Trò chuyện, xem băng hình về các mùa trong năm.
  158. - Sáng tác câu chuyện về nước, bốn mùa (sự cần thiết của nước đối với đời sống con người, cây cối, con vật; Vòng tuần hoàn của nước; Các mùa trong năm).
  159. - Kể chuyện sáng tạo theo tranh “Sơn tinh, Thủy tinh”; “Sự tích Hồ Gươm” Đóng được vai của nhân vật trong truyện
  160. Kể có thay đổi một vài tình tiết như thay tên nhân vật, thay đổi kết thúc, thêm bớt sự kiện... trong nội dung truyện.
  161. - Tìm những chữ cái trong các từ.
  162. - Xem băng hình, xem tranh kể về các hoạt động diễn ra trong mùa hè (bơi lội, du lịch, nghỉ mát…).
  163. - Dùng được câu đơn, câu ghép, câu khẳng định, câu phủ định, câu mệnh lệnh,.. 
  164. - Đọc và chơi các trò chơi dân gian, đọc vè.
  165. - Nhận dạng các chữ trong bảng chữ cái tiếng Việt.
  166. - Tô, đồ các nét chữ, sao chép một số kí hiệu, chữ cái, tên của mình.
  167. Tô màu chữ rỗng, làm chữ cái sáng tạo,…
  168. - Kể chuyện sáng tạo.
  169. - Chọn và phát âm những chữ cái trong từ ghép.
  170. - Trò chuyện, xem băng hình về các mùa trong năm.
  171. - Sáng tác câu chuyện về nước, bốn mùa (sự cần thiết của nước đối với đời sống con người, cây cối, con vật; Vòng tuần hoàn của nước; Các mùa trong năm).
  172. - Tìm những chữ cái trong các từ.
  173. - Đọc sách, làm sách, album về nghề truyền thống của quê hương, lễ hội.
  174. - Đọc và chơi các trò chơi dân gian, đọc vè.
  175. - Xem tranh và kể chuyện về Bác Hồ (ngày sinh nhật, tính cách, công việc).
  176. *Tháng 5:
  177. Hoạt động học:
  178. +/Thơ: Hoa quanh lăng Bác; Bé vào lớp 1; tập viết, cây viết và thước kẻ.
  179. +/Truyện: Sự tích hồ gươm; Quê em vùng biển;
  180. thỏ con đi học,  bác thăm nhà cháu, ao làng, Đêm ở nhà sàn, bé vào lớp 1, Thỏ con đi học; Gà tơ đi học; Anh chàng mèo mướp,Bé không khóc nữa, tập viết, Điểm mười, Hương cốm tới trường, núi đôi,Quả táo, Niềm vui bất ngờ...
  181.  +/LQCV:
  182. - Tập tô chữ cái: s,x.
  183. - LQCC: v,r.
  184. - Trò chơi chữ cái: v,r.
  185. - Tập tô chữ cái: v,r.
  186. Hoạt động khác:
  187. - Xem băng hình, xem tranh kể về các hoạt động diễn ra trong mùa hè (bơi lội, du lịch, nghỉ mát…).
  188. - Đọc sách, làm sách, album về nghề truyền thống của quê hương, lễ hội.
  189. - Đọc và chơi các trò chơi dân gian, đọc vè.
  190. - Xem tranh và kể chuyện về Bác Hồ (ngày sinh nhật, tính cách, công việc).
  191. - Xem tranh, trò chuyện về những hiểu biết của mình về trường tiểu học và những mong muốn được đến trường tiểu học.
  192. - Nói được tên trường, địa chỉ, các hoạt động chính của cô giáo và học sinh trong trường tiểu học.
  193. - Tham quan trường tiểu học, gặp gỡ trò chuyện cùng các anh chị, cô giáo lớp 1.
  194. - Mô tả và nhận xét các hoạt động trong trường tiểu học.
  195. -  Xem sách báo, làm sách về đồ dùng học tập ở trường tiểu học.
  196. - Tô chữ cái: v - r.
  197. - Đọc truyện tranh sáng tạo.
  198. - Làm quen với sách giáo khoa và đồ dùng học tập lớp.
  199. - Chơi đóng cô giáo và học sinh.
  200. - Thực hành làm những học sinh lớp 1.
  201. - Đọc thơ “Gà học chữ”. Truyện “Thỏ con đi học; Quả táo”.
  202. - Sao chép tên theo mẫu, ký hiệu.
  203. - TC: Về đúng địa danh; Ai nhanh hơn?; Hướng dẫn viên du lịch.
  204. - TCDG: Thả đỉa ba ba; Ném còn; Mèo đuổi chuột; Rồng rắn lên mây; Kéo co; Nu na nu nống...”.

 

Thông qua bảng phân chia nội dung chương trình giáo dục mầm non cho trẻ 5-6 tuổi chúng ta thấy nội dung chữ viết được phân bố dàn trải đều xuyên suốt năm học, được sắp xếp sen kẽ với các nội dung  giáo dục khác giúp trẻ không bị nhàm chán với mối tiết học.

 Các tiết học được lồng ghép dưới dạng hình thức các trò chơi đa dạng giúp cho trẻ hào hứng, hứng thú tham gia tiết học một cách tự nhiên. 

Các tiết học được sắp xếp theo trình tự từ chữ cái dễ đến chữ cái khó giúp trẻ tư duy logic, phù hợp với từng giai đoạn phát triển nhận thức của trẻ tạo nên sự đồng nhất từ đầu đến cuối.

Như vậy chương trình giáo dục mầm non cũng đã đáp ứng đủ những yêu cầu, tiêu chí, chuẩn bị tâm thế tốt cho trẻ bước vào lớp 1.

4. Phụ huynh cần chuẩn bị gì cho bé trước khi vào lớp 1 ?

Phụ huynh cần phối kết hợp với các giáo vên mầm non và tạo những điều kiện tốt nhất để các bé có tâm thế tốt trước khi vào lớp 1

* Chuẩn bị góc học tập và dụng cụ học tập cho bé:

Để giúp trẻ hứng thú bước vào việc học, bố mẹ cần trang bị một góc học tập thật yên tình với đầy đủ kệ sách, bút viết, tập vở,…cho trẻ. Cũng có thể để trẻ tự trang trí góc học tập của mình theo sở thích của bản thân. Ngoài ra, cha mẹ có thể trang trí thêm một số thứ hay tranh ảnh, quả đại cầu, và một số thứ khác để khi bước vào giờ học bé sẽ luôn vui vẻ, hứng thú và say mê với việc học. Điều này cho bé thấy được tầm quan trọng của học hành và bé sẽ phải cố gắng nhiều hơn. Cha mẹ cần lưu ý góc học tập cần yên tĩnh, đủ ánh sáng, ít tiếng ồn và tránh xa các thiết bị giải trí như ti vi, điện thoại, ipad,..

* Dạy bé học thuộc bảng chữ cái:

Thực tế, nhiều bé 3 tuổi đã bắt đầu làm quen với bảng chữ cái nhưng học theo kiểu nhwos được đến đâu thì nhớ. Thế nhưng khi trẻ 5 tuổi thì bố mẹ cần hệ thống hóa và dạy trẻ học bảng chữ cái một cách nghiêm túc, có bài bản. Đừng ép trẻ học quá nhiều chữ một ngày, mỗi ngày chỉ nên cho trẻ học 30 phút.

* Cho trẻ học chữ viết:

Khi trẻ đã học thuộc hết mặt chữ thì bố mẹ hãy cho trẻ bắt đầu tập viết. Lúc này tay bé cũng đã cứng cáp nên có thể uốn nét theo ý mình. Hãy cho trẻ tập viết bằng bút chì, bố mẹ có thể viết mẫu làm chuẩn để bé nhìn theo để viết. Ngoài ra, có thể mua thêm vở tập viết cho trẻ luyện thêm. Cha mẹ nhớ chỉnh dáng ngồi cũng như cách cầm bút cho trẻ sao cho đúng vì nếu để lâu khi đã trở thành thói quen rất khó sửa.

* Đọc sách cho bé nghe mỗi ngày:

Đây cũng là một cách dạy trẻ học cực kỳ hiệu quả. Ở lứa tuổi trẻ cũng đã phát âm chuẩn, có thể ghi nhớ được các mẩu chuyện ngắn. Thậm chí một số bé thông minh còn có thể đọc được một số từ đơn giản. Vì vậy, cha mẹ hãy giúp trẻ củng cố và rèn luyện thêm kỹ năng đọc. Cha mẹ nên mua những quyển truyện ngắn, nhiều hình ảnh, ít chữ, nhiều màu sắc phù hợp với trẻ như truyện cổ tích, truyện tranh,… Khi đọc sách cha mẹ nhớ đọc thật biểu cảm, thay đổi giọng và hóa thân vào nhân vật như vậy sẽ làm trẻ nhớ câu chuyện lâu hơn. Hoặc sau mỗi lần kể có thể khuyến khích trẻ kể lại câu chuyện theo trí nhớ của bản thân.

* Lồng ghép việc học chữ vào các trò chơi:

Ở độ tuổi này, trẻ thường thích chơi hơn là ngồi một chỗ để học bài. Vì vậy khi dạy trẻ cha mẹ có thể cho bé học bảng chữ cái qua bài hát, qua trò chơi domino. Với cách học mà chơi, chơi mà học, trẻ sẽ rất thích và sẽ nhớ nhanh bảng chữ cái. Điều này không những áp dụng với dạy chữ cho bé mà khi mẹ dạy bé học toán cũng thế, mẹ cũng nên tìm các trò chơi, trẻ sẽ học tập hiệu quả hơn.

Không có cách dạy trẻ 5 tuổi học chữ nào là hoàn hảo. Vì thế, cha mẹ nên kết hợp nhiều cách khác nhau. Có thể mua các trò chơi về lắp ghép bảng chữ cái cho bé chơi. Ngoài ra, cha mẹ có thể dạy chữ cho bé 5 tuổi ở mọi nơi mọi lúc. Mẹ có thể dán chữ cái với nhiều màu sắc sinh động cho bé học hoặc khi đi ra đường thấy biển hiệu quảng cáo có chữ cái mẹ có thể hỏi bé ngay… Tất cả những điều đó sẽ giúp trẻ củng cố và có thể đọc vanh vách mà mẹ không tốn quá nhiều công sức để dạy bé.

Trên đây là những ý kiến, phân tích bình luận của các chuyên gia giáo dục về tác hại của việc cho trẻ học trước chương trình lớp 1. Hy vọng các bậc phụ huynh có những góc nhìn khác hơn, sâu hơn về vấn đề này để có được lựa chọn tốt nhất cho con em mình.