(GLO)- Lời Tòa soạn: Trải qua 90 năm xây dựng và phát triển, Gia Lai đã thực sự chuyển mình mạnh mẽ cùng đất nước với những bước tiến vượt bậc trên tất cả lĩnh vực. Ký ức về một tỉnh miền núi nghèo nàn, lạc hậu đã dần được thay thế bằng bức tranh kinh tế-xã hội sống động và đầy hấp lực. Nhân kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập tỉnh (24/5/1932-24/5/2022), đồng chí Hồ Văn Niên-Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh đã dành thời gian trả lời phỏng vấn của Báo Gia Lai về sự đổi thay cũng như những định hướng phát triển của tỉnh trong thời gian tới.

P.V: Xin đồng chí khái quát cho bạn đọc Báo Gia Lai hiểu về quá trình thành lập tỉnh Gia Lai?

- Bí thư Tỉnh ủy HỒ VĂN NIÊN: Gia Lai là vùng đất cổ xưa, từ “thuở bình minh” của loài người đã có mặt những tộc người cổ đến chinh phục và khai phá miền đất cao nguyên hùng vĩ. Trải qua thăng trầm của lịch sử, Gia Lai đã có nhiều biến đổi, tạo nên sự đa dạng về thành phần, hình thành bản sắc cộng đồng các dân tộc ở tỉnh; trong đó, 2 dân tộc sinh sống từ lâu đời là Jrai và Bahnar. Từ cuối thế kỷ XVII, người Kinh bắt đầu lên sinh sống ở phía Đông tỉnh. Cuối thế kỷ XVIII, trong quá trình chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã chọn vùng đất Tây Sơn Thượng đạo để xây dựng cơ sở ban đầu của cuộc khởi nghĩa. Từ cuối thế kỷ XIX, các nhóm nông dân người Kinh từ khu vực duyên hải miền Trung (Bình Định, Quảng Ngãi…) tiếp tục di cư lên Gia Lai, lập ra các làng ở An Khê và Bắc Tây Nguyên.

 

Đồng chí Hồ Văn Niên (bìa phải)-Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh trao quyết định và tặng hoa chúc mừng Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Phan Quang Thái. Ảnh: Đức Thụy
Đồng chí Hồ Văn Niên (bìa phải)-Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh trao quyết định và tặng hoa chúc mừng Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Phan Quang Thái. Ảnh: Đức Thụy



Trong những năm đầu thập niên 40 của thế kỷ XIX, các giáo sĩ người Pháp đã thâm nhập vào sâu nội địa tỉnh Gia Lai ngày nay để truyền đạo. Theo chân các giáo sĩ, thực dân Pháp ngày càng tiến sâu vào Bắc Tây Nguyên, tạo ra nhiều sự xáo trộn mới bằng những chính sách chia để trị, chia rẽ người Kinh-Thượng, chia rẽ các dân tộc trong tỉnh và trong khu vực với nhau. Với chính sách khai thác thuộc địa, chính quyền thực dân Pháp đã tăng cường đưa một bộ phận người Kinh từ vùng đồng bằng ven biển miền Trung lên làm công nhân trong các đồn điền trồng chè, cà phê và các công trường làm đường dọc quốc lộ 19, 14 và từng bước thiết lập bộ máy cai trị trên vùng đất Gia Lai.

Sau nhiều lần thay đổi, sáp nhập, chia tách để thành lập các đơn vị hành chính trên vùng Tây Nguyên, ngày 24-5-1932, tỉnh Pleiku được thành lập (gồm đại lý Pleiku và đại lý Cheo Reo) theo Nghị định Toàn quyền Đông Dương. Địa danh Gia Lai chính thức xuất hiện từ ngày 12-12-1932 với việc Vua Bảo Đại ra chỉ dụ lập đạo Gia Lai. Tháng 6-1946, thực dân Pháp chiếm lại vùng đất Gia Lai và đặt tên tỉnh là Pleiku. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, tên tỉnh được chính quyền cách mạng gọi là Gia Lai cho đến năm 1975 nhưng địa giới hành chính của tỉnh có nhiều thay đổi qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử.

Ngày 20-9-1975, theo Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum được hợp nhất thành tỉnh Gia Lai-Kon Tum. Ngày 12-8-1991, theo Nghị quyết kỳ họp thứ 9 của Quốc hội khóa VIII, Gia Lai-Kon Tum được chia tách thành 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum. Từ sau khi chia tỉnh, Gia Lai tiếp tục chia tách để lập thêm một số huyện mới. Đến nay, toàn tỉnh có 17 huyện, thị xã, thành phố với 220 xã, phường, thị trấn; dân số hơn 1,55 triệu người với 44 dân tộc cùng sinh sống.

 

Các đồng chí Thường trực Tỉnh ủy chủ trì buổi làm việc của Ban Thường vụ Tỉnh ủy với Ban Thường vụ Huyện ủy Đak Đoa. Ảnh: Hồng Thi
Các đồng chí Thường trực Tỉnh ủy chủ trì buổi làm việc của Ban Thường vụ Tỉnh ủy với Ban Thường vụ Huyện ủy Đak Đoa. Ảnh: Hồng Thi


* P.V: Sau 90 năm thành lập, tỉnh đã đạt được những thành tựu nổi bật nào, thưa đồng chí?

- Bí thư Tỉnh ủy HỒ VĂN NIÊN: Trải qua 90 năm hình thành và phát triển, dù là trong giai đoạn đấu tranh bảo vệ Tổ quốc hay kiến thiết, xây dựng tỉnh nhà, Nhân dân các dân tộc Gia Lai luôn đoàn kết một lòng, kiên cường, vượt khó, chủ động và sáng tạo.

Từ những năm 1930, 1940, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Nhân dân các dân tộc Gia Lai đã vùng dậy chống thực dân xâm lược, cùng toàn dân tộc Việt Nam chớp thời cơ ngàn năm có một để làm nên chiến thắng vang dội tháng 8-1945, giành độc lập dân tộc và lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa-nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Chỉ trong vòng hơn 1 tuần, cuộc nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền của Nhân dân trong toàn tỉnh đã thắng lợi. Lần đầu tiên trong lịch sử Pleiku, lá cờ đỏ sao vàng được giương cao, tung bay trong niềm hân hoan chào đón của mọi người. Hệ thống chính quyền cai trị của thực dân và phong kiến bị xóa bỏ hoàn toàn, thay vào đó, bộ máy chính quyền cách mạng được thiết lập trong toàn tỉnh.

Ngày 10-12-1945, Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương tỉnh Gia Lai được thành lập, lấy tên là Đảng bộ Tây Sơn. Sự ra đời của Đảng bộ đã phát huy mạnh mẽ tinh thần cách mạng của Nhân dân các dân tộc; đồng thời, đảm nhiệm vai trò và sứ mệnh lịch sử, là đội tiên phong lãnh đạo quân và dân trong tỉnh xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng, cùng cả nước tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng tỉnh lỵ Pleiku vào ngày 17-3-1975 và toàn tỉnh, góp phần vào đại thắng mùa xuân 1975 của dân tộc.

Sau ngày giải phóng, đất nước thống nhất, phát huy truyền thống cách mạng, Đảng bộ tỉnh Gia Lai đã lãnh đạo Nhân dân các dân tộc trong tỉnh chung sức, đồng lòng, phấn đấu vượt qua gian khổ hy sinh, nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục, phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, trấn áp kịp thời bọn phản động FULRO và các tổ chức, đảng phái phản động khác, bảo vệ vững chắc an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo tiền đề để phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh; đồng thời, tham gia làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả với nước bạn Campuchia.

Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã mang lại cho núi rừng Bắc Tây Nguyên một luồng sinh khí mới. Cùng với cả nước, Gia Lai đã có bước chuyển mình đáng kể. Hơn 35 năm qua, Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh luôn phát huy sức mạnh đoàn kết, vận dụng sáng tạo đường lối, linh hoạt nắm bắt thời cơ, khai thác tiềm năng, thế mạnh, tích cực hợp tác, kêu gọi đầu tư phát triển. Do đó, kinh tế của tỉnh thường xuyên duy trì mức tăng trưởng khá: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân hàng năm giai đoạn 2015-2020 đạt 7,55%, năm 2021 tăng 9,71%. Quy mô kinh tế tăng đáng kể, GRDP đến năm 2020 đạt 80.000 tỷ đồng (gấp 1,63 lần so với năm 2015), năm 2021 đạt 88.051 tỷ đồng, GRDP bình quân đầu người đạt 56,31 triệu đồng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch phù hợp, tỷ trọng ngành nông-lâm nghiệp, thủy sản chiếm 30,38%; công nghiệp-xây dựng chiếm 23,41%; dịch vụ chiếm 40,58%; thuế sản phẩm chiếm 5,63%.

Tổng số vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2015-2020 đạt 104.402 tỷ đồng (tăng hơn 10 lần so với giai đoạn 2001-2005), tăng bình quân hàng năm 13,95%; năm 2021 đạt 70.000 tỷ đồng. Đến nay, mạng lưới đường bộ đã thông suốt, tổng chiều dài khoảng 12.862 km, trong đó có 6 tuyến quốc lộ, 10 tuyến tỉnh lộ; đường nội thị, huyện, xã, đường chuyên dùng được quan tâm đầu tư. Cảng Hàng không Pleiku đạt cấp sân bay 4C theo tiêu chuẩn của Tổ chức ICAO đảm bảo phục vụ các loại máy bay A320, A321 hoặc tương đương; công suất 600.000 hành khách/năm, đáp ứng cơ bản nhu cầu vận tải, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng-an ninh.

 

Hoa đỗ mai ở Biển Hồ (TP. Pleiku). Ảnh: Phạm Quý
Hoa đỗ mai ở Biển Hồ (TP. Pleiku). Ảnh: Phạm Quý


Sự thay đổi về diện mạo hạ tầng kinh tế-xã hội là động lực để Gia Lai trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt trên các lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghiệp chế biến, năng lượng tái tạo và du lịch. Giai đoạn 2016-2020, có 515 dự án đầu tư vào địa bàn tỉnh với tổng vốn đăng ký hơn 832,9 ngàn tỷ đồng (tăng gấp 5 lần số dự án và 36 lần về vốn so với giai đoạn 2011-2015). Trong năm 2021, tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư cho 54 dự án với tổng vốn đăng ký hơn 21,6 ngàn tỷ đồng (16 dự án điện gió). Ngoài ra, toàn tỉnh hiện có 7.982 doanh nghiệp, 358 hợp tác xã và 2 liên hiệp hợp tác xã.

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới được quan tâm đầu tư, với nét riêng nổi bật của tỉnh là xây dựng nông thôn mới trong đồng bào dân tộc thiểu số. Đến nay, TP. Pleiku đã được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và hiện đã trình hồ sơ đề nghị Trung ương xét, công nhận 2 thị xã An Khê và Ayun Pa hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2020. Toàn tỉnh có 100 xã và 123 thôn, làng đạt chuẩn nông thôn mới, 214 sản phẩm được công nhận sản phẩm OCOP. Giai đoạn 2016-2020, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 21.598 tỷ đồng, tăng bình quân hàng năm 7,02%; năm 2021 đạt 7.881,8 tỷ đồng, cao nhất từ trước đến nay.

Cùng với đó, các lĩnh vực văn hóa-xã hội có bước phát triển vượt bậc. Quy mô, chất lượng giáo dục tăng lên qua từng năm, giáo dục dân tộc được đặc biệt quan tâm. Đến cuối năm 2021, toàn tỉnh có 54% trường học đạt chuẩn quốc gia; tỷ lệ lao động qua đào tạo toàn tỉnh đạt 55%. Mạng lưới y tế, đặc biệt là y tế cơ sở được củng cố và phát triển. Đặc biệt, trong thời điểm dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, các đơn vị, đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế đã hết sức nỗ lực, cố gắng vừa triển khai công tác phòng-chống dịch, vừa đảm bảo công tác khám-chữa bệnh, cấp cứu, điều trị, chăm sóc sức khỏe người dân. Công tác bảo tàng, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa truyền thống của cộng đồng các dân tộc gắn với phát triển du lịch địa phương được chú ý, quan tâm. Đặc biệt, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; cao nguyên Kon Hà Nừng được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Công tác an sinh xã hội được đảm bảo, tỷ lệ hộ nghèo từ 19,71% năm 2015 giảm còn 4,5% vào năm 2020; đến cuối năm 2021 giảm còn 3,96%. Công tác dân tộc và chính sách dân tộc được triển khai kịp thời, đồng bộ. Đoàn kết giữa các dân tộc tiếp tục được củng cố, góp phần ngăn chặn các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc để phá hoại khối đại đoàn kết, gây mất ổn định chính trị, xã hội. Công tác tôn giáo và chính sách tôn giáo được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, đáp ứng nhu cầu tâm linh của tín đồ các tôn giáo; kịp thời giải quyết các nguyện vọng, kiến nghị hợp pháp, chính đáng của các tôn giáo.

Cùng với chăm lo phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, tỉnh luôn quan tâm thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ qua các giai đoạn lịch sử. Đến nay, Đảng bộ tỉnh Gia Lai có 21 Đảng bộ trực thuộc (17 Đảng bộ huyện, thị xã, thành phố và 4 Đảng bộ tương đương); 950 tổ chức cơ sở Đảng (355 Đảng bộ cơ sở, 595 chi bộ cơ sở); 11 Đảng bộ bộ phận; 3.488 chi bộ trực thuộc Đảng ủy cơ sở; tổng số đảng viên toàn Đảng bộ là 63.549 đồng chí. Tỉnh cũng luôn quan tâm lãnh đạo thực hiện có hiệu quả 2 nhiệm vụ chiến lược “Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, không ngừng củng cố quốc phòng-an ninh, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, nhất là “thế trận lòng dân” vững chắc; xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh toàn diện, từng bước chính quy, hiện đại. Hoạt động đối ngoại đạt nhiều kết quả tích cực. Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã tiếp tục duy trì, củng cố, phát triển các mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội, kết nối, quảng bá, giới thiệu tiềm năng, lợi thế của tỉnh với các tỉnh thành trong nước và các tỉnh Đông Bắc Campuchia, Nam Lào.

* P.V: Để Gia Lai tiếp tục phát triển nhanh, toàn diện và bền vững, tỉnh đã đề ra những định hướng lãnh đạo, chỉ đạo như thế nào trong những năm tới, thưa đồng chí?

- Bí thư Tỉnh ủy HỒ VĂN NIÊN: Thời gian đến, tỉnh sẽ tập trung phát huy nội lực, tranh thủ tối đa các nguồn ngoại lực; khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế; tích cực thu hút đầu tư, liên kết, hợp tác với các địa phương, các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước để tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà. Đồng thời, gắn phát triển kinh tế với giải quyết tốt các vấn đề xã hội; triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp để thực hiện phương châm “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”. Tiếp tục nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; bảo đảm quốc phòng-an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ môi trường. Nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; năng lực tổ chức thực hiện của chính quyền các cấp. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, trọng tâm hướng vào phục vụ dân, tôn trọng dân, phát huy sức dân và chịu sự giám sát của Nhân dân. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang trong công cuộc kháng chiến cứu nước, toàn tỉnh sẽ đồng tâm, nhất trí, đoàn kết một lòng cùng nhau vượt qua mọi khó khăn, thử thách, bằng những hành động thiết thực góp phần xây dựng Gia Lai phát triển nhanh, bền vững, giàu bản sắc; phấn đấu đến năm 2030 trở thành vùng động lực khu vực Tây Nguyên.

* P.V: Xin trân trọng cảm ơn đồng chí!

 

 HỒNG THI (thực hiện)