Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của TRƯỜNG THCS NGUYỄN VĂN LINH - PHƯỜNG CẨM LỆ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Wednesday, 04/11/2026 - 05:13|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của TRƯỜNG THCS NGUYỄN VĂN LINH - PHƯỜNG CẨM LỆ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

KHI PHƯỜNG TRỞ THÀNH CHÍNH QUYỀN GẦN DÂN NHẤT

Nhìn từ Cẩm Lệ sau một năm vận hành hai cấp.

Ngày 1/7/2025, tấm biển “UBND phường Cẩm Lệ” được gắn lên trụ sở số 135 Ông Ích Đường. Ba phường Khuê Trung, Hòa Thọ Đông, Hòa Thọ Tây trở thành một; cấp quận kết thúc hoạt động. Từ thời khắc ấy, phường không còn là “cấp cơ sở” theo nghĩa quen thuộc, mà là cấp chính quyền trực tiếp đối diện với gần 79.000 người dân, trong mọi việc từ khai sinh, khai tử đến đất đai, xây dựng, an sinh. Một năm nhìn lại, câu chuyện Cẩm Lệ không chỉ là câu chuyện của một phường.

1. Phép thử ở tuyến đầu

Tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền 3 cấp ngày 1/7/2026, sau khi điểm lại năm kết quả lớn và bảy hạn chế cần khắc phục, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra một mệnh đề có tính thước đo: “Cấp xã phải được tổ chức như tuyến đầu của quản trị công”, và “Coi năng lực thực thi của cấp xã là thước đo kiểm định thành công của mô hình mới” (Tô Lâm, 2026).

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền 3 cấp, sáng 1/7/2026. Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Mệnh đề ấy đảo ngược một quán tính tư duy đã kéo dài. Trong mô hình ba cấp trước đây, phường, xã thường được nhìn như “chân rết” cuối cùng của bộ máy – nơi triển khai, nơi thi hành, nơi báo cáo. Nay, khi cấp huyện kết thúc hoạt động, phường trở thành nơi ra quyết định. Xét riêng các nhiệm vụ được phân định thẩm quyền và phân cấp, phân quyền từ Trung ương, cấp xã hiện trực tiếp đảm nhiệm ít nhất 938 nhiệm vụ; khoảng 73,8% nhiệm vụ của cấp huyện trước đây đã chuyển xuống cấp xã (Vũ Xuân Thanh & Thiều Thị Thu Hương, 2026).

Con số ấy chuyển từ trang văn bản xuống một quầy tiếp nhận cụ thể, một công chức cụ thể, một buổi sáng thứ Hai cụ thể. Đó là lý do Cẩm Lệ – phường đô thị cửa ngõ phía Tây Nam Đà Nẵng, diện tích 14,05 km², dân số 78.837 người – trở thành trường hợp đáng soi chiếu. Đây là vùng chuyển tiếp giữa lõi đô thị và vùng ven, nơi tốc độ đô thị hóa cao kéo theo mật độ hồ sơ đất đai, xây dựng, cư trú lớn. Ba phường hợp nhất cũng có nghĩa là ba bộ hồ sơ lưu trữ, ba nếp làm việc, ba mạng lưới cán bộ khu dân cư phải hòa vào một guồng. Nếu mô hình mới có “độ vênh”, nó sẽ lộ ra ở những nơi như thế này.

Công trình cải tạo cảnh quan vỉa hè bờ sông dọc tuyến đường Thăng Long tạo nên diện mạo hiện đại, văn minh cho phường Cẩm Lệ – vùng chuyển tiếp giữa lõi đô thị và vùng ven Đà Nẵng. Ảnh: XUÂN SƠN (Báo và phát thanh, truyền hình Đà Nẵng)

2. Cơ sở chính trị – pháp lý: vì sao phường trở thành “gần dân nhất”

Việc phường trở thành cấp chính quyền gần dân nhất không phải hệ quả kỹ thuật của việc bỏ cấp huyện, mà là kết quả của một quá trình đổi mới tư duy quản trị được đặt nền từ khá sớm. Trên phương diện chính trị, Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) đã xác định yêu cầu “sửa đổi, bổ sung hoàn thiện thể chế xây dựng chính quyền địa phương theo hướng phân biệt rõ hơn tổ chức bộ máy chính quyền đô thị, nông thôn, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2017). Trên cơ sở tổng kết Nghị quyết này, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) ban hành Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025, khẳng định chủ trương tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp.

Trên phương diện pháp lý, Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013 và thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16/6/2025: đơn vị hành chính được tổ chức thành hai cấp – cấp tỉnh và cấp xã (gồm xã, phường, đặc khu); “phường” là đơn vị hành chính ở đô thị, có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.

Với Đà Nẵng, cơ sở pháp lý trực tiếp là Nghị quyết số 1659/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các phường Hòa Thọ Tây, Hòa Thọ Đông và Khuê Trung thành phường mới mang tên Cẩm Lệ, hoạt động từ ngày 01/7/2025. Sau sắp xếp và hợp nhất, Đà Nẵng có 94 đơn vị hành chính cấp xã – 23 phường, 70 xã và đặc khu Hoàng Sa – với diện tích hơn 11.870 km² và dân số gần 3,2 triệu người (Hoài Sơn, 2026).

Điểm mấu chốt là hệ thống pháp luật đi kèm không chỉ giải quyết bài toán tổ chức, mà chuyển giao thẩm quyền thực chất. Thực hiện Nghị định số 370/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025, cả nước đã thành lập 10.066 phòng chuyên môn cấp xã; hệ thống Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã hình thành tương đối đồng bộ với 3.139 trung tâm tại 33/34 địa phương (Vũ Xuân Thanh & Thiều Thị Thu Hương, 2026). Nói cách khác, phường không chỉ được giao thêm việc; phường được trao một bộ máy để làm việc đó. Đây chính là ranh giới giữa “phân cấp hình thức” và “phân quyền thực chất”.

3. Một năm, đọc từ những con số của Cẩm Lệ

Nếu phải chọn một chỉ số duy nhất để đánh giá xem phường có thực sự “gần dân” hay không, có lẽ đó là chỉ số về hồ sơ: bao nhiêu hồ sơ được tiếp nhận, xử lý ra sao, đúng hạn không, người dân có phải đi lại nhiều không. Từ ngày 01/7/2025 đến ngày 26/5/2026, phường Cẩm Lệ tiếp nhận gần 24.000 hồ sơ thủ tục hành chính trên các hệ thống phần mềm của thành phố và các bộ, ngành. Tỷ lệ hồ sơ thực hiện trực tuyến đạt 99,5%; tỷ lệ giải quyết trước và đúng hạn đạt 100%. Công tác số hóa triển khai đồng bộ: số hóa đầy đủ thành phần hồ sơ khi tiếp nhận đạt 99,99%; số hóa kết quả giải quyết đạt 100% (Hoàng Sơn, 2026).

Ba con số này nói những điều khác nhau. Gần 24.000 hồ sơ trong mười một tháng – khoảng 2.100 hồ sơ mỗi tháng – cho thấy khối lượng công việc thực tế mà một phường đô thị phải gánh sau khi cấp quận không còn, chưa kể các nhiệm vụ không phát sinh hồ sơ như quản lý trật tự xây dựng, vệ sinh môi trường, giải phóng mặt bằng, an sinh xã hội.

Tỷ lệ 100% đúng hạn là chỉ số về kỷ luật hành chính, phản bác một lo ngại phổ biến khi mô hình mới bắt đầu vận hành: rằng dồn nhiệm vụ xuống phường sẽ gây ùn ứ, chậm trễ. Nhưng đáng chú ý nhất là tỷ lệ 99,5% hồ sơ trực tuyến. Đây không phải chỉ số công nghệ, mà là chỉ số về khoảng cách. Khi gần như toàn bộ hồ sơ được nộp và xử lý trên môi trường mạng, “gần dân” không còn đo bằng số mét từ nhà đến trụ sở phường – tiêu chí từng gây tranh luận gay gắt khi sáp nhập, bởi địa bàn mở rộng đồng nghĩa nhiều người dân phải đi xa hơn. Cẩm Lệ trả lời câu hỏi đó bằng cách làm cho quãng đường ấy trở nên không cần thiết.

Người trẻ phường Cẩm Lệ hỗ trợ người dân tiếp cận công nghệ số khi làm thủ tục hành chính – cách để “gần dân” không còn được đo bằng khoảng cách địa lý. Ảnh: S.X (Báo Thanh Niên)

Kết quả được ghi nhận ở cấp thành phố: Cẩm Lệ dẫn đầu bộ chỉ số đánh giá chất lượng cung cấp dịch vụ công, đồng thời đứng đầu nhóm 12 xã, phường được xếp loại xuất sắc về cải cách hành chính năm 2025 và được Chủ tịch UBND thành phố khen thưởng (Hoàng Sơn, 2026). Ở quy mô toàn Đà Nẵng, tỷ lệ hồ sơ xử lý trực tuyến hoàn toàn đạt 91,43%, số hóa kết quả đạt 98,04% và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp đạt 99,23% (Anh Dũng, 2026). Cẩm Lệ vượt mặt bằng chung ở cả hai chỉ số đầu – cho thấy dư địa cải thiện đến từ cách làm chứ không chỉ từ điều kiện.

4. “Cẩm Lệ số”: lời giải cho bài toán quá tải

Vì sao một phường mới hợp nhất, cán bộ giảm, việc tăng, lại giữ được tỷ lệ đúng hạn tuyệt đối? Câu trả lời của Cẩm Lệ là chuyển đổi số – nhưng được đặt đúng vị trí trong bài toán quản trị. Ngay từ những ngày đầu vận hành mô hình mới, phường xác định chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng quản trị và cải cách hành chính. Điều đáng chú ý là cách tiếp cận: thay vì chỉ dừng ở ứng dụng công nghệ trong xử lý công việc nội bộ, địa phương hướng đến xây dựng chính quyền số gắn với phục vụ người dân, doanh nghiệp và phát triển đô thị thông minh (Hoàng Sơn, 2026). Khác biệt giữa hai cách tiếp cận là rất lớn: cách thứ nhất giúp cán bộ đỡ vất vả khi làm việc cũ; cách thứ hai thiết kế lại chính công việc đó. Tinh thần ấy trùng khớp với định hướng mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Chuyển đổi số trong mô hình mới là thiết kế lại phương thức điều hành, từ dữ liệu gốc và hồ sơ công việc đến quy trình liên thông, bảng điều hành theo thời gian thực và cơ chế giám sát trách nhiệm” (Tô Lâm, 2026).

Cẩm Lệ đi theo hướng đó ở ba tầng.

Tầng thứ nhất là hạ tầng và dữ liệu. Phường nâng cấp hệ thống mạng nội bộ, bảo đảm vận hành ổn định các nền tảng số, dịch vụ công trực tuyến, chữ ký số và phần mềm chuyên ngành; đồng thời số hóa gần 30.000 trang tài liệu lưu trữ, hoàn thành 100% kế hoạch năm 2025 (Hoàng Sơn, 2026). Đây là công việc thầm lặng nhưng nền tảng, đặc biệt với một phường hình thành từ ba đơn vị cũ – nơi hồ sơ của cả ba phải quy về một mối.

Bí thư Đảng ủy phường Cẩm Lệ Nguyễn Hoài Nam diễn giải quy trình tiếp nhận, xử lý, giải quyết hồ sơ trực tuyến tại Trung tâm Phục vụ hành chính công của phường với Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Nguyễn Đình Vĩnh (đứng giữa) trong đợt kiểm tra công tác vận hành chính quyền địa phương hai cấp. Ảnh: THANH PHƯƠNG (Báo và phát thanh, truyền hình Đà Nẵng)

Tầng thứ hai là kỹ năng số của con người. Phường triển khai phong trào “Bình dân học vụ số”, phát huy các tổ công nghệ số cộng đồng và thực hiện Đề án 06 nhằm nâng cao kỹ năng số cho cả cán bộ, công chức và người dân. Đây là mắt xích thường bị bỏ qua: một cổng dịch vụ công vận hành tốt vẫn có thể vô dụng nếu người dân – nhất là người cao tuổi – không biết cách sử dụng.

Tầng thứ ba là chủ động đề xuất sửa quy trình từ chính thực tiễn xử lý hồ sơ. Phường đã kiến nghị đơn giản hóa nhiều thủ tục, với những đề xuất rất cụ thể: bỏ yêu cầu nộp bản sao giấy chứng nhận kết hôn đối với thủ tục đăng ký khai sinh; tích hợp dữ liệu giấy chứng tử điện tử từ cơ sở y tế để giảm giấy tờ khi đăng ký khai tử (Hoàng Sơn, 2026).

Hai đề xuất nhỏ về quy mô nhưng lớn về ý nghĩa: phường không chỉ vận hành thủ tục mà còn quan sát thủ tục, phát hiện điểm bất hợp lý và kiến nghị lên trên. Đó chính là điều Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu: “Phải giảm tối đa việc yêu cầu người dân, doanh nghiệp kê khai lặp lại những thông tin Nhà nước đã có” (Tô Lâm, 2026). Kiến nghị ấy chỉ có thể nảy sinh từ nơi trực tiếp tiếp nhận hồ sơ – tức là từ phường.

“Cẩm Lệ số” còn lan sang cả những lĩnh vực tưởng chừng xa hành chính. Cẩm Lệ là địa phương đầu tiên của Đà Nẵng tổ chức cuộc thi Robotics cấp phường cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở. Đầu năm 2026, học sinh Trường Tiểu học Hoàng Dư Khương giành cúp top 10 thế giới cùng 2 huy chương vàng tại Giải Robotics thế giới World Robot Contest Final 2026 tại Trung Quốc (Hoàng Sơn, 2026). Đó là biểu hiện của năng lực kiến tạo, không còn đơn thuần là năng lực hành chính.

5. Hạt nhân lãnh đạo: khi Đảng bộ phường đặt đề bài

Không kết quả nào ở trên đến một cách tự phát. Đằng sau đó là vai trò định hướng của tổ chức đảng. Ngày 20/6/2025 – trước khi bộ máy chính quyền mới vận hành – Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng ban hành Quyết định số 15248-QĐ/TU chỉ định 27 ủy viên Ban Chấp hành, 11 ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy phường Cẩm Lệ nhiệm kỳ 2025 – 2030, bảo đảm không có khoảng trống lãnh đạo trong thời khắc chuyển giao.

Sáng 2/7/2025, phường Cẩm Lệ tổ chức Lễ công bố quyết định của Thành ủy Đà Nẵng về thành lập Đảng bộ phường, chỉ định cấp ủy, Bí thư, các Phó Bí thư Đảng ủy phường nhiệm kỳ 2025 – 2030. Ảnh: Đà Ly (Trang thông tin điện tử phường Cẩm Lệ)

Hơn ba tuần sau khi mô hình mới đi vào hoạt động, ngày 25/7/2025, Đại hội đại biểu Đảng bộ phường Cẩm Lệ lần thứ I diễn ra với phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Sáng tạo - Phát triển”, xác định 11 chỉ tiêu chủ yếu, 3 nhiệm vụ đột phá, 3 chương trình chiến lược và 2 mô hình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa (Hàn Nguyên, 2025). Nhiệm vụ đột phá thứ nhất rất rõ: hoàn thiện và thực hiện hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp, gắn với thực hiện hiệu quả nhiệm vụ phân cấp, phân quyền từ Trung ương và thành phố, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giữ vững đoàn kết, đồng thuận trong nhân dân. Ba chương trình chiến lược “Cẩm Lệ số” – “Cẩm Lệ xanh” – “Cẩm Lệ sáng tạo” đặt chuyển đổi số ở vị trí đầu tiên; hai mô hình “Số hóa vì cộng đồng” và “Mái ấm an toàn” gắn công nghệ với an sinh.

Bí thư Đảng ủy phường Cẩm Lệ Nguyễn Hoài Nam lý giải: “Các chương trình thành phố '5 không', '3 có', '4 an', 'thành phố thông minh', 'thành phố môi trường' đều hướng về con người, lấy con người là trung tâm và động lực cho sự phát triển. Các chương trình chiến lược của phường Cẩm Lệ được đề ra cũng không nằm ngoài mục tiêu đó” (Hàn Nguyên, 2025).

Đây là điểm cần nhấn mạnh trong công tác xây dựng Đảng ở cơ sở khi vận hành mô hình mới. Cấp ủy phường không làm thay chính quyền, nhưng đặt đề bài cho chính quyền: chọn chuyển đổi số làm chương trình chiến lược, chọn sự hài lòng của người dân làm thước đo, chọn cải cách hành chính làm nhiệm vụ đột phá. Đề bài đặt đúng thì nguồn lực, sự quan tâm và trách nhiệm người đứng đầu mới dồn về đúng chỗ.

Chất lượng tổ chức cơ sở đảng cũng được duy trì trong quá trình chuyển đổi. Nhiệm kỳ 2020 – 2025, các đảng bộ tiền thân đều hoàn thành toàn bộ chỉ tiêu nghị quyết đại hội; chất lượng sinh hoạt chi bộ được nâng lên gắn với mô hình “Chi bộ 4 tốt”, “Đảng bộ cơ sở 4 tốt”; đã kết nạp 230 đảng viên (Hàn Nguyên, 2025). Hợp nhất ba đảng bộ không làm đứt gãy nền nếp sinh hoạt – yếu tố quan trọng để giữ ổn định tư tưởng cán bộ, đảng viên trong giai đoạn xáo trộn tổ chức.

Đảng ủy phường cũng coi tổng kết thực tiễn là nhiệm vụ chính trị. Kế hoạch số 135-KH/ĐU ngày 07/8/2026 về tham gia Giải Búa liềm vàng thành phố Đà Nẵng năm 2026 xác định rõ yêu cầu “góp phần vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân” (Đảng ủy phường Cẩm Lệ, 2026).

6. Những điểm nghẽn chưa được gỡ

Sẽ là phiến diện nếu chỉ nhìn vào các con số đẹp. Bức tranh chung của mô hình hai cấp sau một năm còn nhiều khoảng tối, và Cẩm Lệ – dù thuộc nhóm dẫn đầu – vẫn nằm trong bối cảnh chung ấy.

Thứ nhất, năng lực đội ngũ chưa theo kịp khối lượng công việc. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ ra rất thẳng thắn: “Năng lực thực thi ở cơ sở, nhất là cấp xã, chưa theo kịp yêu cầu mới (…) Nhiều cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều việc, chịu áp lực lớn và đối mặt với rủi ro công vụ.” Kèm theo là một con số cần suy nghĩ: chỉ 53% cán bộ cấp tỉnh và 30% cán bộ cấp xã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ (Tô Lâm, 2026).

Ở Đà Nẵng, thực trạng này được lãnh đạo ngành nội vụ xác nhận. Phó Giám đốc Sở Nội vụ thành phố Hà Đức Hoài cho biết: “Nhiều công chức cấp xã phải kiêm nhiệm nhiều việc, chịu áp lực lớn. Bên cạnh đó, điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin ở một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu... làm ảnh hưởng phần nào đến chất lượng làm việc tại địa phương”; tình trạng thừa, thiếu cục bộ cán bộ, công chức ở một số phường, xã vẫn tồn tại (Hoài Sơn, 2026).

Vấn đề nằm ở cấu trúc chứ không ở thái độ làm việc. Theo Nghị định số 361/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025, số vị trí việc làm ở cấp xã là 45, trong đó 34 vị trí chuyên môn, nghiệp vụ; trong khi bình quân mỗi chính quyền cấp xã được giao khoảng 32 biên chế với 3 phòng chuyên môn. Hệ quả là một phòng cấp xã có thể phải chịu sự quản lý về chuyên môn của 5 – 7 sở; mỗi công chức phải quản lý nhà nước nhiều ngành, lĩnh vực, trong khi về cơ bản mỗi người chỉ có một bằng cấp phù hợp với một lĩnh vực (Vũ Xuân Thanh & Thiều Thị Thu Hương, 2026). Với một phường đô thị mật độ dân số cao như Cẩm Lệ, chênh lệch ấy không phải con số kế toán: nó là số giờ làm thêm, là rủi ro sai sót ở những lĩnh vực nhạy cảm nhất.

Thứ hai, định mức biên chế và phân bổ nguồn lực còn mang tính bình quân, “chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt rất lớn về quy mô dân số, diện tích, tính chất đô thị, điều kiện miền núi, biên giới, hải đảo, mức độ phát triển và khối lượng công việc thực tế” (Tô Lâm, 2026). Một phường gần 79.000 dân với hàng chục nghìn hồ sơ mỗi năm và một xã miền núi vài nghìn dân không thể cùng khung biên chế theo logic cào bằng.

Thứ ba, dữ liệu chuyên ngành còn phân tán, phần mềm chưa liên thông. Việc Cẩm Lệ tiếp nhận hồ sơ “trên các hệ thống phần mềm của thành phố và các bộ, ngành” – tức nhiều hệ thống song song – phản ánh chính điều này. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cảnh báo tình trạng “cán bộ cơ sở phải sử dụng nhiều hệ thống, nhiều phần mềm khác nhau, làm giảm hiệu quả vận hành, tăng áp lực xử lý công việc” (Tô Lâm, 2026). Đây là trần kính khó vượt nếu chỉ nỗ lực từ dưới lên.

Thứ tư, quy mô đơn vị hành chính vẫn đang được đặt lại. Cả nước còn 705 đơn vị hành chính cấp xã (khoảng 21%) chưa đạt đủ tiêu chuẩn về diện tích hoặc dân số (Vũ Xuân Thanh & Thiều Thị Thu Hương, 2026). Theo Nghị quyết số 180/NQ-CP ngày 06/7/2026 của Chính phủ, UBND thành phố Đà Nẵng đang chỉ đạo rà soát toàn diện 94 đơn vị hành chính cấp xã (Hoài Sơn, 2026). Nghĩa là sự ổn định hiện nay chưa phải điểm dừng.

Thứ năm, cơ chế lãnh đạo, kiểm tra giữa cấp tỉnh và cấp xã còn phải đổi mới. Khi không còn cấp huyện, một thành phố phải trực tiếp chỉ đạo 94 đầu mối cấp xã. Nguy cơ được cảnh báo là “hoặc cấp trên không nắm chắc cơ sở, hoặc cấp dưới lại phải xin ý kiến quá nhiều, làm giảm tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm” (Tô Lâm, 2026). Đà Nẵng ứng phó bằng cách “đi trước một bước”: lập các đoàn công tác trực tiếp làm việc tại xã, phường, tăng cường cán bộ cho địa bàn khó khăn và triển khai mô hình kết nghĩa giữa 60 xã, phường đồng bằng với 33 xã miền núi (Anh Dũng, 2026). Nhưng đây vẫn là giải pháp hành chính – tổ chức, chưa phải cơ chế vận hành ổn định lâu dài.

7. Từ Cẩm Lệ, năm gợi mở cho mô hình

Từ thực tiễn một phường, có thể rút ra một số gợi mở có giá trị tham khảo rộng hơn.

Một là, phân cấp phải đi kèm nguồn lực, dữ liệu và công cụ. Nguyên tắc đã rõ: “Phân cấp không phải là chuyển gánh nặng xuống cấp dưới mà là chuyển thẩm quyền, nguồn lực, dữ liệu, công cụ thực thi và trách nhiệm một cách rõ ràng, minh bạch, có kiểm soát” (Tô Lâm, 2026). Kinh nghiệm Cẩm Lệ cho thấy khi phường được trao đủ thẩm quyền, hạ tầng số và quyền chủ động đề xuất sửa quy trình, hiệu quả vượt xa mức trung bình. Ngược lại, nơi chỉ được giao việc mà không có công cụ, áp lực sẽ dồn lên công chức và cuối cùng dồn sang người dân.

Hai là, chuyển từ biên chế bình quân sang biên chế theo khối lượng công việc, dựa trên các biến số đo đếm được: quy mô dân số, số hồ sơ thủ tục hành chính phát sinh bình quân năm, diện tích, mật độ đô thị hóa, số dự án và diện tích đất đang chuyển đổi. Với các phường đô thị như Cẩm Lệ, cần bảo đảm mỗi lĩnh vực trọng yếu (đất đai, xây dựng – quy hoạch, tài chính, tư pháp, công nghệ thông tin) có ít nhất một công chức chuyên trách được đào tạo đúng chuyên ngành.

Ba là, hợp nhất nền tảng số thay vì cộng dồn phần mềm. Cấp xã không nên hứng chịu hệ quả của việc mỗi bộ, ngành xây dựng một hệ thống riêng. Cần chuẩn hóa, tích hợp, chia sẻ dữ liệu theo nguyên tắc “một nguồn dữ liệu dùng chung”, tiến tới một giao diện tác nghiệp thống nhất cho công chức cấp xã.

Bốn là, thể chế hóa cơ chế phản hồi từ cơ sở lên. Hai kiến nghị đơn giản hóa thủ tục của Cẩm Lệ cho thấy phường là “cảm biến” tốt nhất của hệ thống. Cần có quy trình chính thức, có thời hạn trả lời, để những kiến nghị như vậy được xử lý, thay vì phụ thuộc vào sự chủ động ngẫu nhiên của từng địa phương.

Năm là, xây dựng bộ chỉ số theo dõi vận hành mô hình mới ở cấp phường, gồm thời gian xử lý thủ tục hành chính, tỷ lệ hồ sơ đúng hạn, mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp, tỷ lệ công việc cấp xã phải xin ý kiến cấp trên, số vụ việc được phát hiện sớm và xử lý sớm (Tô Lâm, 2026). Trong đó, “tỷ lệ công việc cấp xã phải xin ý kiến cấp trên” là chỉ báo trực tiếp nhất về mức độ phân quyền thực chất – và hiện chưa được nhiều địa phương đo lường. Cần gắn đánh giá cán bộ với các chỉ số này, đồng thời bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm khi đã làm đúng thẩm quyền, đúng quy trình và không vụ lợi.

8. Thước đo cuối cùng

Một năm đủ để một mô hình bộc lộ cả sức mạnh lẫn giới hạn, nhưng chưa đủ để kết luận. Điều Cẩm Lệ chứng minh được là: bỏ một tầng nấc trung gian không tất yếu dẫn đến quá tải và chậm trễ, nếu cấp được giao việc chuẩn bị đủ ba thứ – một tổ chức đảng đặt đúng đề bài, một nền tảng số đủ mạnh và một đội ngũ chịu học cách làm mới. Gần 24.000 hồ sơ với 99,5% trực tuyến và 100% đúng hạn không phải phép màu; đó là kết quả của việc chọn đúng khâu đột phá ngay từ ngày đầu.

Điều Cẩm Lệ chưa thể tự giải quyết cũng rõ ràng không kém: định mức biên chế bình quân, sự phân tán của dữ liệu chuyên ngành, độ vênh giữa số vị trí việc làm và số biên chế thực có. Đó là những nút thắt thể chế, đòi hỏi lời giải từ cấp cao hơn. Một phường làm tốt không bù đắp được cho một cơ chế chưa hoàn thiện; ngược lại, một cơ chế tốt sẽ nhân lên hiệu quả của hàng nghìn phường, xã.

Trở lại mệnh đề của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: “Tổ chức mới phải tạo ra năng lực mới, cơ chế phân cấp – phân quyền mới phải song hành với trách nhiệm mới, dữ liệu mới phải tạo ra phương thức quản trị mới, và bộ máy mới phải đem lại chất lượng phục vụ mới cho người dân và doanh nghiệp” (Tô Lâm, 2026). Bốn vế ấy tạo thành một chuỗi. Đứt bất kỳ mắt xích nào, cuộc cải cách sẽ dừng lại ở việc thay biển hiệu. Ở Cẩm Lệ, chuỗi ấy hiện chưa đứt. Nhưng giữ cho nó liền mạch trong năm thứ hai, thứ ba – khi sức nóng giai đoạn đầu lắng xuống, khi khối lượng công việc tiếp tục tăng – mới là phép thử thật sự.

Bởi suy cho cùng, thước đo của một chính quyền gần dân không nằm ở khoảng cách địa lý từ nhà đến trụ sở, cũng không nằm ở số lượng nghị quyết được ban hành. Nó nằm ở chỗ: khi một người dân cần đến chính quyền, họ mất bao lâu, phải đi bao nhiêu lần, và có phải nhờ vả ai không. Ở phép thử đó, phường – chứ không phải cấp nào khác – là nơi đưa ra câu trả lời./.

LƯƠNG QUỲNH UYÊN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Anh Dũng (23/5/2026). Nhiều cách làm sáng tạo gỡ điểm nghẽn để chính quyền gần dân. TTXVN/VietnamPlus. https://www.vietnamplus.vn/nhieu-cach-lam-sang-tao-go-diem-nghen-de-chinh-quyen-gan-dan-post1112108.vnp
  2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017). Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
  3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025). Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.
  4. Chính phủ (2026). Nghị quyết số 180/NQ-CP ngày 06/7/2026 phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 năm 2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương.
  5. Đảng ủy phường Cẩm Lệ (2026). Kế hoạch số 135-KH/ĐU ngày 07/8/2026 tham gia Giải báo chí về xây dựng Đảng (Giải Búa liềm vàng) thành phố Đà Nẵng năm 2026.
  6. Hàn Nguyên (25/7/2025). Đại hội đại biểu Đảng bộ phường Cẩm Lệ lần thứ I (nhiệm kỳ 2025 - 2030): Khát vọng vươn lên, xây dựng Cẩm Lệ “số - xanh - sáng tạo”. Báo và phát thanh, truyền hình Đà Nẵng.
  7. Hoài Sơn (23/7/2026). Đà Nẵng rà soát toàn diện 94 xã, phường để tiếp tục sắp xếp. Báo điện tử Dân trí.
  8. Hoàng Sơn (24/6/2026). Dấu ấn “Cẩm Lệ số” trong chính quyền 2 cấp. Báo Thanh Niên.
  9. Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 (thông qua ngày 16/6/2025).
  10. Tô Lâm (01/7/2026). Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền 3 cấp. Báo Điện tử Chính phủ.
  11. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 1659/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của thành phố Đà Nẵng năm 2025.

Vũ Xuân Thanh & Thiều Thị Thu Hương (2026). Chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam sau một năm thực hiện. Tạp chí Quản lý nhà nước, số 367 (7/2026), tr. 51-58.


Lượt xem: 10
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 0
Hôm qua : 58
Tháng 11 : 127
Năm 2026 : 14.936