de tai

 

A - PHẦN MỞ ĐẦU

 

          I .LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

 

       1. Xuất phát từ yêu cầu dạy học phân môn

      Tập đọc là một phân môn có vị trí quan trọng hàng đầu trong ch­ương trình Tiếng Việt ở tiểu học. Dạy tốt phân môn Tập đọc không những rèn luyện cho học sinh kĩ năng đọc mà còn phát triển cho các em vốn từ ngữ phong phú tạo điều kiện để các em học tốt các phân môn khác. Thông qua môn Tập đọc rèn cho các em kĩ năng đọc như­: Đọc đúng, đọc nhanh, đọc chính xác, rõ ràng, diễn cảm để học sinh có những hiểu biết về kiến thức văn học, ngôn ngữ và ng­ược lại. Đầu tiên trẻ phải học đọc sau đó trẻ phải đọc để học. Đọc giúp các em lĩnh hội đ­ược ngôn ngữ, dùng trong giao tiếp và hoạt động học tập. Nó là điều kiện để cho học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cho cả đời. Phân môn Tập đọc còn trau dồi cho học sinh kiến thức Tiếng Việt, kiến thức văn học, kiến thức đời sống giáo dục tình cảm, thầm mĩ. Tập đọc là môn khởi đầu, đồng thời cũng là công cụ học tập không chỉ trong nhà tr­ường mà còn trong cuộc sống nói chung. Tr­ước hết môn tập đọc giúp cho học sinh rèn kĩ năng đọc đúng, ngắt giọng, nhấn giọng, đọc diễn cảm một bài văn, khổ thơ làm tiền đề cho  việc tìm hiểu bài. Các quá trình đó có liên quan mật thiết với nhau, bổ sung và hỗ trợ cho nhau. Qua việc đọc, học sinh chiếm lĩnh đ­ược tri thức văn hóa của dân tộc, tiếp thu nền văn minh của loài ng­ười thông qua sách vở, biết đánh giá cuộc sống xã hội, t­ư duy. Qua hoạt động học, tình cảm thẩm mĩ của các em được nâng cao nên tầm hiểu biết để nhìn ra thế giới xung quanh và quá trình nhận thức của các em có chiều sâu hơn. Đọc đúng, đọc hay cũng là kĩ năng của ngôn ngữ văn học. Qua đó có tác dụng tình cảm, đạo đức cao đẹp cho ngư­ời học sinh. Đồng thời phát huy óc sáng tạo và khả năng tư­ duy nh­ư quá trình phân tích tổng hợp cho các em.

 

       2. Xuất phát từ thực tế dạy học

      Qua nghiên cứu thực tế tôi thấy rằng chất l­ượng dạy tập đọc ở tiểu học ch­ưa cao nguyên nhân là do nhiều lư­ợng kiến thức giáo viên còn áp đặt, nặng nề, truyền  đạt còn quen sử dụng phư­ơng pháp truyền thống, ít gợi ý để học sinh khám phá, tìm hiểu. Khả năng đọc của một số giáo viên còn hạn chế, có những cách hiểu và cách giải dẫn đến hiệu quả đạt được trong giờ tập đọc chưa cao. Thực tế ở các trường tiểu học hiện nay việc học tập theo phương pháp giảng giải. Giáo viên còn dựa trên hướng thích chưa đúng về các bài đọc ở tiểu học. Học sinh còn thụ động, giờ học khô khan.

     Giáo viên dựa trên hướng dẫn của sách giáo khoa bằng phương thức giáo viên hỏi - học sinh trả lời. Chính vì vậy mà đã bộc lộ được nhiều nhược điểm trong việc quản lí lớp cũng như khả năng kích thích hứng thú học tập của học sinh tham gia tìm hiểu, xây dựng bài. Đặc biệt là việc rèn luyện kĩ năng đọc cho học sinh còn hạn chế và sau một giờ, một bài học sinh ít có khả năng đọc hay, diễn cảm và hiểu nội dung bài một cách đầy đủ. Học sinh không quan tâm tới phương pháp đọc của mình. Do đó, các em rất yếu về năng lực.

 

   3.  Xuất phát từ nhu cầu nâng cao nghiệp vụ chuyên môn 

      Phân môn Tập đọc có nhiệm vụ rèn kĩ năng đọc cho học sinh. Đọc là một hoạt động của lời nói, là quá trình chuyển dạng chữ viết sang lời nói âm thanh, là quá trình chuyển tiếp hình thức chữ viết thành đơn vị nghĩa không có âm thanh.

     Cả hai hình thức trên đều không thể tách rời nhau. Chính vì vậy, dạy đọc có một ý nghĩa rất to lớn ở tiểu học. Nó đã trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với người đi học. Đọc là một khả năng không thể thiếu được của con người trong thời đại văn minh.

     Chính vì vậy, là giáo viên tiểu học tôi rất băn khoăn những vấn đề tồn tại trên. Vậy tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “ Rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 4”. Với mong muốn nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên, nhằm giúp học sinh biết đọc đúng, đọc hay, có khả năng kể chuyện, giao tiếp tốt, viết đúng chính tả, viết được những bài văn có đủ ý, trọn câu và ngày càng yêu các môn học.

 

            II. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

         Học sinh khối lớp 4, cụ thể là lớp 4C, Trường  tiểu học Văn Khê A

           

            III. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

            - Tháng 9 năm 2017: Đăng ký tên đề tài sáng kiến kinh nghiêm và viết đề cương tóm tắt.

          - Từ tháng 9 đến tháng 11: Tiến hành điều tra thực trạng nghiên cứu và viết đề cương sơ bộ.

          - Từ tháng 12 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018: Tiến hành thực nghiệm.

          - Cuối tháng 4 năm 2018: Viết và hoàn chỉnh đề cương chi tiết.

          - Tháng 5 năm 2018: Thông qua Hội đồng khoa học, in ấn và nộp.

 

            IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

          Tìm ra biện pháp đọc đúng, đọc hay tốt nhất để giúp học sinh học tốt phân môn Tập đọc.

           

            V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

          Để đạt được mục đích rèn đọc cho học sinh tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:

       1. Thu thập tài liệu, nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến đề tài, tìm hiểu sách giáo khoa Tiếng Việt 4, sách giáo viên.

       2. Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, phỏng vấn và trao đổi trực tiếp học sinh, giáo viên dùng phiếu thăm dò.

       3. Phương pháp trao đổi và toạ đàm với đồng nghiệp.

       4. Kiểm tra đánh giá sau thực nghiệm.

       5. Dạy thực nghiệm.

        Để minh hoạ cho các giải pháp và các phương pháp đã nêu ở trên tôi đã chọn và dạy một bài trong chương trình lớp 4, tập 2 trang 102 - Bài: " Đường đi Sa Pa "

 

B - NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

 

      I. CƠ SỞ LÝ LUẬN

         1. Tập đọc là gì ?

      Môn Tập đọc ở trường tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực này được thể hiện thống nhất trong 4 hoạt động tương ứng với chúng là 4 chức năng: nghe, nói, đọc, viết. Như vậy, đọc là một hoạt động ngôn ngữ là quá trình chuyển dạng thức viết sang lới nói có âm thanh và thông hiểu chúng. Đọc không chỉ là công việc giải quyết một bộ mã (gồm 2 phần) chữ viết và âm thanh nghĩa là nó không phải chỉ là sự đánh vần lên thành tiếng theo đúng như kí hiệu chữ viết, mà còn là quá trình nhận thức, để có kĩ năng thông hiểu những gì đọc được. Trên thực tế nhiều khi người ta đã không hiểu khái niệm đọc một cách đầy đủ. Nhiều chỗ, người ta chỉ nói đến đọc như nói việc sử dụng bộ mã chữ âm còn việc chuyền từ âm sang nghĩa đã không được chú ý đúng mực.

 

         2. Ý  nghĩa của việc đọc

      Phần lớn những tri thức, kinh nghiệm của đời sống những thành tựu văn hoá khoa học, tư tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và của cả những người đương thời phần lớn đã được ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp thu được nền văn minh của loài người. Không thể sống một cuộc sống bình thường, không thể làm chủ trong xã hội hiện đại. Ngược lại, biết đọc con người có thể dễ dàng tiếp thu nền văn minh của nhân loại. Vì thế, học có những hiểu biết, có khả năng chế ngự một phương tiện văn học cơ bản giúp cho họ giao tiếp với thế giới bên trong của người khác, đặc biệt khi đọc bài (Tập đọc, học thuộc lòng). Con người không chỉ thức tỉnh về nhận thức, mà còn rung động tình cảm nảy nở những ước mơ cao đẹp. Đọc khơi dậy tiềm lực hành động, sức sáng tạo, cũng như được bồi dưỡng tâm hồn. Không biết đọc, con người sẽ không có điều kiện giáo dục mà xã hội dành cho họ. Họ chỉ hình thành một nhân cách toàn diện. Đặc biệt trong thời buổi bùng nổ thông tin, biết đọc ngày càng quan trọng vì nó sẽ giúp con người ta sử dụng các nguồn thông tin. Đọc chính là học nữa, học mãi đọc để tự học, học cả đời.

      Chính vì vậy Tập đọc là một phân môn có ý nghĩa to lớn ở tiểu học. Nó trở thành một đòi hỏi cơ bản, đầu tiên đối với mỗi người đi học. Đầu tiên trẻ phải học đọc sau đó đọc để học. Đọc giúp trẻ chiếm lĩnh được ngôn ngữ trong giao tiếp và học tập nó cũng là một công cụ để học các môn học khác nó tạo ra hứng thú và động cơ học tập. Đồng thời nó tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học. Tập đọc là khả năng không thể thiếu của con người trong thời đại văn minh. Biết đọc sẽ giúp các em hiểu biết nhiều hơn, hướng các em tới cái thiện, cái đẹp, dạy cho học sinh biết cách suy nghĩ lô gíc, tư duy có hình ảnh.

      Như vậy việc dạy đọc có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Vì nó bao gồm nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển.

 

     3. Ý nghĩa của việc rèn kĩ năng đọc qua phân môn Tập đọc

      Ở tiểu học phân môn Tập đọc có một vị trí rất quan trọng, dạy tốt phân môn này là đáp ứng một trong bốn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt. Đối với học sinh lớp 4, việc rèn đọc vô cùng quan trọng nó giúp các em hiểu đúng nội dung văn bản. Giáo dục các em lòng yêu sách trở thành một thứ không thể thiếu được trong nhà trường và gia đình. Làm giàu kiến thức về ngôn ngữ và tư duy cho các em, giáo dục tư tưởng tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ cho các em.

      Đọc là giáo dục lòng ham đọc sách hình thành phong cách và thói quen làm việc với sách của học sinh. Nói cách khác thông qua việc dạy đọc phải giúp cho học sinh thích đọc và thấy được rằng khả năng đọc là có lợi cho các em trong cuộc đời, phải làm cho các em thấy đó là một trong những con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển.

      Ngoài việc dạy đọc còn có nhiệm vụ khác như:

   -  Làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, về đời sống và kiến thức về văn học cho học sinh.

   -  Phát triển ngôn ngữ và tư duy cho học sinh.

   -  Giáo dục tư tưởng  đạo đức, tình cảm thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh.

   -  Giúp học sinh biết đọc để giao tiếp và giải trí.

 

       II. CƠ SỞ THỰC TIỄN

      1. Nội dung dạy Tập đọc lớp 4

     Quá  trình tìm hiểu nội dung sách giáo khoa Tiếng Việt 4, tôi nhận thấy hầu hết các bài tập đọc đều là tác phẩm hoặc đoạn trích của những văn bản có giá trị nghệ thuật. Mỗi bài đã được các nhà viết sách lựa chọn nhằm cung cấp cho học sinh một kiến thức nhất định. Về nội dung của các bài Tập đọc lớp 4 có 10 chủ đề :

 

Thương người như thể thương thân:

3 tuần

6 tiết

 

Măng mọc thẳng

3 tuần

6 tiết

 

Trên đôi cánh ước mơ

3 tuần

6 tiết

 

Có chí thì nên

3 tuần

6 tiết

 

Tiếng sáo diều

4 tuần

8 tiết

 

Người ta là hoa đất

3 tuần

6 tiết

 

Vẻ đẹp muôn màu

3 tuần

6 tiết

 

Những người quả cảm

3 tuần

6 tiết

 

Khám phá thế giới

3 tuần

6 tiết

 

Tình yêu cuộc sống

3 tuần

6 tiết

       Chương trình sách giáo khoa Tiếng việt 4, có 188 bài tập đọc. Trong đó, các bài văn xuôi – truyện kể và thơ, kịch… được đưa vào trong chương trình. Nội dung các

bài văn xuôi ngắn, dễ hiểu, dễ đọc và gần gũi với cuộc sống xung quanh các em. Văn xuôi gồm nhiều loại, nhiều dạng bài như: miêu tả, kể, vừa kể vừa tả hoặc có cả truyện ngắn, kịch. Thể loại thơ cũng rất phong phú chủ yếu là thơ vần, thơ lục bát, thơ 5 chữ, thơ tự do và Ca dao. Những câu truyện kể, những bài văn xuôi rất gần gũi, gắn bó với cuộc sống xung quanh các em. Tạo cho các em có một niềm vui, hứng thú đọc và tìm hiểu như bài: (Mẹ ốm, Dế Mèn bênh vực kẻ yếu, Ở Vương quốc tương lai...)

      Trong các bài Tập đọc việc sử dụng các biện pháp tu từ, So sánh, Nhân hoá ngắn gọn, dễ hiểu tạo nên hình ảnh ngôn ngữ. Vì vậy nhờ sự phân loại các dạng bài Tập đọc đã góp phần giúp người giáo viên xác định được đặc trưng riêng của từng giọng điệu để hướng dẫn học sinh đọc tốt, đọc hay và nâng cao chất lượng cảm thụ cho học sinh bằng chính giọng đọc.

      Về thể thơ trữ tình chiếm vị trí đa số. Các bài thơ được trích dẫn từ hình ảnh nhạc điệu quen thuộc, thiên về giáo dục tình cảm, đạo đức, yêu quê hương đất nước, gia đình, làng xóm... Giúp học sinh nâng cao kĩ năng cảm xúc thẩm mĩ, kích thích các em đọc đúng, đọc hay để khám phá cái hay, cái đẹp của văn chương.

 

       2. Phương pháp rèn đọc cho học sinh lớp 4

      Trong thực tế mỗi bài Tập đọc đều có hai phần lớn: Luyện đọc và tìm hiểu nội dung bài. Hai phần này có thể tiến hành cùng một lúc hoặc đan xen vào nhau hoặc cũng có thể dạy tách theo hai phần. Tuỳ theo từng bài mà giáo viên lựa chọn, dù dạy như thế nào thì hai phần này luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau, cần tìm hiểu bài giúp học sinh hiểu kĩ nội dung, nghệ thuật của bài từ đó các em đọc đúng, biết đọc ngắt giọng, nhấn giọng để thể hiện nội dung của bài, thể hiện những hiểu biết của mình xung quanh bài đọc. Vì vậy việc rèn đọc trong bài Tập đọc rất quan trọng, góp phần làm giàu vốn kiến thức ngôn ngữ vào đời sống và kiến thức văn học cho học sinh. Từ đó góp phần hình thành ở các em những phẩm chất, nhân cách tốt.

      Trong quá trình tìm hiểu bài, cho học sinh phải biết tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của từng đoạn. Từ đó mới hiểu được nội dung của từng bài và tìm ra cách đọc tốt nhất (đọc thầm, đọc thành tiếng).Vì vậy người giáo viên phải từng bước hình thành cho học sinh cách đọc. Sau khi chia bài thành các đoạn giáo viên tiếp tục tổ chức, điều khiển, hướng dẫn tìm hiểu nội dung của từng đoạn bằng phương pháp như: Vấn đáp, trực quan, giảng giải và có thể sử dụng các loại kĩ thuật khác trong giờ dạy như giải nghĩa từ. Còn với học sinh mỗi đoạn, mỗi bài là một chủ thể luyện tập, các em phải được suy nghĩ, được nói lên ý nghĩa đó được luyện trong bài.

      Dạy Tập đọc cần dạy sát đối tượng, sát trình độ để đảm bào tính vừa sức.

      Những phương pháp đã được áp dụng cho phân môn Tập đọc:

     2.1. Phương pháp trực quan

      Phương pháp này phù hợp với tư duy, tâm lý, lứa tuổi học sinh. Trực quan bằng giọng đọc của giáo viên. Giọng đọc mẫu của giáo viên là hình thức trực quan sinh động và có hiệu quả cao, có tác dụng làm mẫu cho học sinh luyện đọc. Mỗi bài văn, bài thơ viết ở thể loại khác nhau. Có bài giọng đọc náo nức, phấn khởi; có bài giọng đọc trang nghiêm trầm lắng; có bài giọng đọc ân cần khuyên nhủ nghĩa là mỗi bài một vẻ. Do đó giáo viên cần đọc đúng thể loại ngữ liệu, tránh đọc đều đều, không cảm xúc kết hợp biểu hiện tình cảm, qua ánh mắt, nét mặt, nụ cười. Khi giới thiệu bài nên dùng  trực quan bằng tranh ảnh, vật thật giúp các em háo hức tìm hiểu và cảm thụ bài đọc. Trực quan bằng một đoạn văn chép sẵn được ngắt theo cụm từ để các em đọc ngắt hơi, nghỉ hơi đúng chỗ. Có thể trực quan bằng cách nghe giọng đọc hay của học sinh trong lớp.

    2.2. Phương pháp đàm thoại

    Phương pháp này phù hợp với tâm lí trẻ nhỏ. Các em thích hoạt động (hoạt động lời nói) giáo viên đưa ra một hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài để học sinh trả lời tìm ra cái hay của tác phẩm. Muốn đọc ngắt giọng, nhấn giọng dẫn đến đọc diễn cảm trước tiên phải đọc tốt (đọc lưu loát, rõ ràng) và cảm thụ tốt bài văn bằng những câu hỏi đàm thoại để hiểu phương pháp luyện đọc. Phương pháp này đựợc dùng chủ yếu trong giờ Tập đọc dưới sự chỉ đạo của giáo viên, học sinh luyện đọc nhiều lần.

      Phương pháp dùng phiếu bài tập có thể thấy ngay lỗi mà học sinh thường mắc qua việc yêu cầu học sinh đọc đúng một đoạn văn, thơ ngắn với những âm thanh, vần dễ lẫn.

    Tóm lại, để giờ học đạt hiệu quả cao thì người giáo viên phải sử dụng linh hoạt các phương pháp trên một cách hợp lý sao cho giờ học không bị ngắt quãng, gián đoạn. Giáo viên chỉ đóng vai trò là người tổ chức hướng dẫn các em tìm ra cách đọc, luôn lấy học sinh làm trung tâm.

    Yêu cầu về kiến thức kĩ năng học sinh cần đạt được sau khi học phân môn Tập đọc:

   Tập đọc là một môn học mang tính chất tổng hợp, vì ngoài nhiệm vụ dạy đọc nó còn

có nhiệm vụ trau dồi kiến thức về Tiếng Việt. Cho nên sau khi học môn Tập đọc yêu cầu học sinh cần đạt được là:

                    Rèn kĩ năng đọc ( đọc đúng, đọc diễn cảm)

               Biết ngắt giọng, nhấn giọng.

               Cảm thụ tốt bài văn.

    Rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 4 yêu cầu học sinh phải đọc rõ ràng, rành mạch. Không đọc lí nhí, giọng quá nhỏ, không dừng lâu quá để đánh vần, nghỉ hơi ở dấu chấm, dấu phẩy, chỗ cần tách ý. Biết đọc liền các tiếng trong từ ghép, từ láy hoặc cụm từ cố định. Ngoài ra còn biết đọc đúng giọng câu kể, câu hỏi, câu cảm biết phân biệt lời dẫn chuyện với lời đối thoại. Dù đọc ở mức độ nào cũng đều yêu cầu phát âm đúng. Khi đọc thầm yêu cầu học sinh phải luyện thành thói quen để tạo được hứng thú khi đọc sách báo.

    Khi cảm thụ bài đọc đối với học sinh lớp 4 cũng không yêu cầu khai thác sâu, kĩ bài văn bài thơ mà học sinh để cần nắm được ý để trả lời các câu hỏi.

 

       III. THỰC TRẠNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

 

     1. Thực trạng của việc dạy học phân môn Tập đọc lớp 4

      Hiện nay với sự phát triển ngày càng càng cao, đặc biệt là sự đổi mới đáng đề cập đến đó là vấn đề đổi mới về chương trình và sách giáo khoa lớp 1, 2, 3, 4, 5 thì vấn đề giáo dục phải ngày càng được phát triển, đổi mới không ngừng. Do vậy, đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng học hỏi để theo kịp sự phát triển và đổi mới của xã hội.  Phần nhiều giáo viên là những người ham học hỏi, tích cực tìm ra phương pháp dạy học mới để đạt được kết quả cao nhất. Song do điều kiện, do còn hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ nên chưa tiếp cận được hết những phương pháp dạy học mới. Một số giáo viên còn dạy theo phương pháp cũ. Khi tiếp cận với phương pháp dạy học mới giáo viên thường quan niệm: trong các tiết dạy phải có hệ thống câu hỏi và buộc học sinh trả lời các câu hỏi ấy. Như vậy, yêu cầu học sinh dùng một phương pháp thực hành nhiều cho nhớ và giáo viên khi dạy ít quan tâm đến đặc điểm tâm lí của các em học sinh tiểu học đó là “ Học mà chơi, chơi mà học”, các em khi học rất dễ nhớ nhưng cũng rất nhanh quên.

      Thực trạng dạy học Tập đọc của các trường tiểu học

    *Về phía giáo viên

      Qua điều tra chúng tôi thấy rằng giáo viên chưa hiểu khái niệm “ Đọc” một cách đầy đủ, khi dạy chưa bám sát vào mục tiêu, yêu cầu của từng bài. Do vậy họ chưa đạt được mục tiêu của một giờ tập đọc. Có những người cho rằng dạy tập đọc là chủ yếu dạy cho các em đọc to, rõ ràng là được. Phương pháp dạy tập đọc của giáo viên có dạy theo đoạn, có các kiểu câu hỏi khác nhau song hình thức luyện đọc chỉ đơn thuần là đọc. Việc sử dụng đồ dùng còn hạn chế, giáo viên còn dạy “chay” chưa coi những phương tiện trực quan là cần thiết trong việc luyện đọc.Vì thế việc đọc đúng, đọc hay của học sinh còn hạn chế.

     *Về phía học sinh

      Qua khảo sát, điều tra tôi thấy kĩ năng đọc đúng, đọc hay của học sinh còn hạn chế. Học sinh học bài một cách thụ động, các em học một cách bắt buộc, chỉ có những học sinh khá, giỏi mới cố gắng đọc cho hay song vẫn chưa đạt yêu cầu. Khi đọc một số văn bản các em không ngắt nghỉ hơi đúng chỗ nên các em không nắm được điều gì là cốt yếu trong văn bản. điều này sẽ gây khó khăn trong việc hình thành kĩ năng giao tiếp.

       2. Khảo sát qui trình  dạy học môn Tập đọc của học sinh lớp 4

         a. Phạm vi khảo sát

     Trường Tiểu học Văn Khê A là một đơn vị giáo dục vùng rất thuận lợi .Toàn trường có 610 học sinh chia làm 18 lớp. Nhà trường có 36 cán bộ, công nhân viên. Vì vậy việc nâng cao chất lượng dạy và học được nhà trường đặc biệt quan tâm. Nhiều môn học đã đưa ra bàn bạc và làm chuyên đề như: Chuyên đề toán, chuyên đề tự nhiên và xã hội, chuyên đề tập làm văn, chuyên đề luyện từ và câu, chuyên đề tập đọc... Với mong muốn tìm ra được phương pháp dạy học tốt nhất phù hợp với học sinh. Song với phân môn Tập đọc, thực tế trong quá trình dạy và học thì cả thầy và trò vẫn còn hạn chế (đặc biệt là việc đọc đúng) chưa đạt yêu cầu. Từ việc đọc đúng còn hạn chế nên việc đọc hay, đọc hiểu của học sinh chất lượng còn thấp.

          b. Điều tra khảo sát khối lớp 4 (cụ thể lớp 4C)

     Lớp 4C mà tôi điều tra nghiên cứu gồm có 33 học sinh, trong đó có 15 học sinh nữ. Học sinh đi học đúng độ tuổi. Nhưng trình độ nhận thức không đồng đều. Vào đầu năm học nhà trường khảo sát thấy việc đọc của các em chưa tốt, mức độ đọc còn chậm và chưa biết cách đọc đúng, đọc ngắt giọng, nhấn giọng.

   2.2. Khảo sát kĩ năng đọc của học sinh lớp 4

      Tôi tiến hành khảo sát chất lượng môn tập đọc, bài : “Mùa xuân đến”- Tiếng Việt 2 tập 2. Tôi đã xây dựng phiếu trắc nghiệm về những lỗi học sinh hay mắc như sau:

      Phiếu điều tra học tập

   2.2. Khảo sát kĩ năng đọc của học sinh lớp 4

      Tôi tiến hành khảo sát chất lượng về kĩ năng đọc của học sinh bài: “Những hạt thóc giống”- Tiếng Việt 4 tập 1. Tôi đã xây dựng phiếu trắc nghiệm về những lỗi học sinh hay mắc như sau:

      Phiếu điều tra học tập

      Họ và tên:

      Lớp         : 4c

     Bài đọc: Những hạt thóc giống

  1. Câu hỏi:
  1. Em có thích học Tập đọc không?
  2. Đọc đúng giúp em những gì?
  3. Em thích đọc bài nào (văn xuôi, thơ..) ? Vì sao?
  1. Bài tập:
  1. Em hãy đọc các từ sau:

Xoa đầu, chim sâu, say mê, xâu cá

Trò chuyện, chung sức, cây tre

Lao động, nàng tiên, làng bản, lịch sự

b. Em hãy ngắt giọng, nhấn giọng và đọc diễn cảm đoạn văn sau:

     Vua ra lệnh phát cho mỗi người dân một thúng thóc về gieo trồng và giao hẹn: ai thu được nhiều thóc nhất sẽ được truyền ngôi, ai không có thóc nộp sẽ bị trừng phạt.

Đáp án của đoạn văn:

     Vua ra lệnh phát cho mỗi người dân một thúng thóc về gieo trồng / và giao hẹn: ai thu được nhiều thóc nhất / sẽ được truyền ngôi, ai không có thóc nộp / sẽ bị trừng phạt.

      Sau khi học sinh làm bài vào phiếu điều tra tôi đã thu lại chấm, tổng hợp kết quả cụ thể trước thực nghiệm như sau:

 

Lớp


 số

 

Luyện phát âm

Ngắt giọng

Nhấn giọng

Đọc diễn cảm

 

Đúng

Chưa đúng

Đúng

Chư­a đúng

Đúng

Chưa đúng

Đúng

Chưa đúng

 

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

 

4C

 

33

13

39,3

20

60,7

11

33,3

22

66,7

10

30,3

23

69,7

6

18,2

27

81,8

 

     Một kết quả trắc nghiệm cho thấy số học sinh mắc lỗi phát âm, đọc ngắt giọng, nhấn giọng và đọc diễn cảm quá lớn. Tôi đã trực tiếp trao đổi với đồng nghiêp, tổ chuyên môn về kết quả trên đồng thời đề ra biện pháp của mình áp dụng ở lớp tôi. Các thầy, cô giáo hoàn toàn nhất trí và ủng hộ tôi trong việc dạy thực nghiệm và tiếp tục nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến tình trạng đọc kém của học sinh. 

     a. Hạn chế về tài liệu dạy Tập đọc: Hệ thống văn bản chưa mẫu mực, chưa có nhiều lợi thế để dạy đọc đúng, đọc ngắt giọng, nhấn giọng và đọc diễn cảm.

     b. Nội dung khảo sát hạn chế hướng dẫn tìm hiểu bài là nơi thể hiện khá rõ hướng khai thác nội dung và phương pháp dạy học ở trên lớp nhưng vẫn tồn tại những nhược điểm sau:

      - Câu hỏi và  bài tập  chỉ yêu cầu học sinh một phương thức hành động duy nhất : dùng lời. Điều này có nhiều hạn chế, số lượng học sinh làm việc trên lớp rất ít bởi một người nói phải có người nghe, không thể học sinh cùng nói, không tích cực hoá được hoạt động học của học sinh. Đây là nguyên nhân chính làm cho số lương học sinh   hoạt động tích cực trong giờ Tập đọc ít hơn giờ Toán.

      - Các câu hỏi và bài tập trong sách giáo khoa chủ yếu yêu cầu học sinh tái hiện lại các chi tiết của bài ít câu hỏi học sinh suy luận. Nhiều câu hỏi bài tập mang tính áp đặt vì chúng ta nêu ra các bước trước cách hiểu học sinh chỉ còn là người nêu ra cho những nhận xét này.

      c. Nguyên nhân chủ quan do chính các em đem lại tinh thần, thái độ học tập của các em còn yếu, do đặc điểm tâm lí của trẻ còn ít tuổi nên các em rất hiếu động, khả năng tập chung chưa cao. Trong khi đó để cho học sinh đọc đúng cách ngắt giọng, nhấn giọng, diễn cảm đòi hỏi nhiều ở tính kiên trì, nhẫn lại chịu khó. Nguyên nhân không nhỏ nữa là một số em học sinh về nhà do bố mẹ chưa thực sự quan tâm. Do trình độ giáo viên chưa đồng đều nên mỗi giáo viên lại có cách hiểu và phân loại khác nhau còn thiếu chính xác nên dẫn đến việc nhận thức giọng đọc các bài khác nhau. Ngoài ra giáo viên còn hạn chế bởi khả năng tiếp thu phương pháp dạy học mới rất khó khăn. Họ chỉ quen dạy theo phương pháp cũ. Đồ dùng dạy học phục vụ cho bài giảng còn thiếu. Khi học sinh đọc bài giáo viên chưa chú ý đến chất lượng mà chỉ chú ý đến số lượng đọc, ít hướng dẫn cụ thể học sinh khi các em đọc sai. Bên cạnh đó giáo viên còn chưa chú ý đọc cho học sinh trong các giờ học, môn học khác. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả về khả năng đọc cho học sinh lớp 4 như sau.

 

CHƯƠNG II: NHỮNG NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP CẢI TIẾN

 

       I.  Một số giải pháp rèn đọc cho học sinh lớp 4

      Trên cơ sở lí luận của việc dạy học nói chung và dạy môn Tập đọc nói riêng. Tôi nhận thấy thực tiễn dạy học chưa đáp ứng được yêu cầu dạy học ở tiểu học. Để khắc phục những hạn chế, phát huy những ưu điểm có trong thực tế, tôi xin đưa ra một số biện pháp mà tôi áp dụng có hiệu quả của việc dạy học (đọc thầm, đọc thành tiếng).

      1.  Luyện phát âm

      Muốn học sinh đọc đúng, đọc ngắt giọng, nhấn giọng dẫn đến đọc diễn cảm người giáo viên phải giúp các em phát âm chuẩn, đọc đúng loại câu, đúng ngữ điệu câu. Giúp các em tự hiểu nội dung bài, xác định đúng loại câu, ngữ điệu, giúp các em phải biết đặt mình vào vị trí của nhân vật, của tác giả. Ngoài ra còn phải biết cách tổ chức một giờ học nhẹ nhàng, sinh động. Xây dựng phong trào thi đua đọc đúng, đọc hay, ngoài ra kết hợp với việc rèn đọc trong tất cả các môn học khác giúp các em tích cực hoá việc học môn Tiếng Việt. Như chúng ta đã biết cả giáo viên, học sinh huyện Mê Linh  nói chung và giáo viên tiểu học nói riêng khi nói và đọc đều mắc một sai lầm là đọc ngọng, thiếu dấu, đọc, nói lẫn giữa phụ âm đầu là l - n, hoặc với những tiếng có phụ âm quặt lưỡi như s - x; r- d; ch - tr đều đọc cố nhấn để phát âm cho rõ nên làm mất cái hay, cái tự nhiên khi đọc. Điều này làm cho các em cảm thấy xấu hổ mất tự tin khi đọc, hạn chế việc đọc của các em mất đi sự hứng thú với môn học này. Mà quy trình dạy tập đọc theo hướng đổi mới của lớp 4 như chúng ta đều nắm được gồm các bước chính sau:

               + Luyện đọc đúng

               + Tìm hiểu nội dung

               + Luyện đọc nâng cao ( rèn đọc hay, đọc diễn cảm)

      Chính vì vậy khi dạy Tập đọc chúng ta phải chú ý quan tâm đến tất cả các đối tượng học sinh trong lớp mình và khi dạy học chúng ta phải phụ thuộc vào trình độ của học sinh, phải hướng dẫn cho các em đọc đúng, phát âm chuẩn. Nếu học sinh đọc chưa tốt, đọc còn ngọng, sai và ấp úng thì giáo viên phải dừng lại ở bước 1 là luyện đọc đúng. Nếu học sinh đọc đúng, đọc tốt rồi thì giáo viên dành cho luyện đọc nâng cao (bước 3). Động viên các em và giao nhiệm vụ cho cả lớp cùng giúp bạn bằng cách không trêu ghẹo, đùa mà tạo cơ hội cho bạn sửa chữa.

      Qua tìm hiểu tôi thấy đại đa số các em đọc ngọng là do các nguyên nhân sau:

                    + Do môi trường sống (nhiều hơn)

               + Do bộ máy phát âm (ít hơn)

                    + Do phương ngữ

      Chính vì vậy để sửa cho các em đọc đúng người giáo viên phải kiên trì liên tục và có hệ thống. Thông thường các em rất ngại đọc vì sợ các bạn chê cười, chế nhạo cho nên người giáo viên phải giải toả tâm lí cho học sinh bằng lời lẽ của mình. Đồng thời phải giải thích cho học sinh cùng lớp để các em cùng giúp bạn sửa chữa :

* Đọc đúng các âm dễ lẫn:

Đọc đúng là phát âm đúng hệ thống ngữ âm chuẩn. Nói cách khác là phải đọc đúng chính âm (không đọc theo cách phát âm của địa phương, mà cách phát âm có sự sai lệch so với âm chuẩn). Phát âm đúng tiếng Việt là yêu cầu cần thiết. Đọc đúng đòi hỏi thể hiện chính xác âm vị. Để học sinh đọc đúng trong quá trình giảng dạy tôi đã cho các em phát hiện, so sánh, phân biệt để từ đó các em phát âm đúng hay đọc đúng hay đọc đúng các âm đầu trong các bài đọc và trong giao tiếp.

+ Ví dụ 1: Khi dạy bài “Dế mèn bênh vực kẻ yếu” - Tiếng Việt lớp 4 - phần I.

Là bài học đầu tiên của chương trình, tôi đã tiến hành hướng dẫn cho học sinh phát hiện, phân biệt để đọc đúng các phụ âm đầu hay đọc lẫn như sau: (Các tiếng có phụ âm đầu “l/n”).

- Học sinh đọc bài một lượt - Toàn lớp đọc thầm.

- Học sinh đưa ra các từ hay đọc lẫn ở trong bài đó là:

“Mới lột, bướm non, lương ăn, món nợ cũ...”

- Gọi một học sinh đọc các từ đó.

- Cho học sinh khác nhận xét xem bạn đọc đúng, hay đọc còn chưa được.

- Nếu học sinh đọc vẫn chưa đúng. Giáo viên đọc mẫu sau đó cho học sinh đọc lại.

Mặt khác cho học sinh có thể so sánh phân biệt để đọc cho đúng.

- Phải đọc là vay “lương” ăn chứ không đọc là vay “nương” ăn trong câu (Năm trước, gặp khi trời làm đói kém, mẹ em phải vay lương ăn của Nhện).

“Lương” ở đây là lương thực, lương tháng... khác . Còn “Nương” là nương rẫy hay làm nương của bà con dân tộc vùng cao.

Như vậy chúng ta cần chỉ rõ cho học sinh khi nào phát âm là “l”, khi nào phát âm đọc là “n” trên cơ sở học sinh hiểu nghĩa của từ.

+ Ví dụ 2:  Khi dạy bài “Những hạt thóc giống” - Tiếng Việt lớp 4 - phần 1.

- Tôi tiến hành hướng dẫn học sinh đọc đúng phụ âm đầu (l/n) như sau:

- Gọi học sinh lần lượt đọc bài.

- Học sinh khác chú ý lắng nghe bạn đọc, phát hiện những tiếng bạn đọc chưa đúng phụ âm đầu.

- Giáo viên ghi lên bảng chẳng hạn (nô nức, lo lắng, nảy mầm...)

- Gọi  những học sinh đọc chưa đúng đọc lại. Yêu cầu lắng nghe, học sinh khác nhận xét đọc được chưa ? ... không được đọc là “lô lức”; “no nắng”, “lảy mầm” trong các câu (... mọi người nô nức chở thóc... Chôm lo lắng đến trước vua quỳ tâu).

* Đọc đúng các vần:

Không những yêu cầu học sinh đọc đúng phụ âm đầu (l/n) như trên mà cần rèn cho các em đọc đúng cả những vần khó, tiếng khó, vần có nguyên âm đôi mà các em hay phát âm sai, tôi đã hướng dẫn cụ thể như sau:

+ Ví dụ:

- Cho các em đọc bài giáo viên cùng học sinh cả lớp theo dõi, nếu học sinh đọc sai ghi lên bảng và sửa cho học sinh: “con hươu” vần “ươi” không đọc là con “hiêu” vần iêu, “về hưu” không đọc là “về hiu” vần “iu”, “uống rượu” vần “ươu” không đọc là “uống riệu” vần “iêu” hoặc cho học sinh phát hiện các tiếng có  vần khó như  “tuyết, khuyết, khúc khuỷu, đêm khuya, ngoằn ngoèo...”

- Gọi học sinh  đọc lại những từ, tiếng có vần khó.

- Giáo viên uốn nắn sửa luôn cho học sinh.

Bên cạnh hướng dẫn học sinh đọc đúng âm, vần như trên tôi còn luyện đúng dấu thanh.

* Đọc đúng dấu thanh.

Học sinh tiểu học vẫn còn có em chưa phát âm đúng, đọc đúng dấu thanh do nhiều yếu tố mang lại. Trong đó có yếu tố do đặc điểm địa phương mà các em sinh sống. Các em còn phát âm sai ở dấu thanh như  thanh ngã (~) phát thành thanh sắc (') như tiếng “mỡ” thành “mớ”... là sai nghĩa của câu.

Chính vì thế chúng ta cần rèn cho các em đọc đúng dấu thanh trong các bài tập đọc như:

+ Ví dụ: Khi dạy bài “Chị em tôi” - Tiếng Việt lớp 4 – Tập 1.

- Giáo viên đưa ra các tiếng mà có dấu thanh hay lẫn.

- Giáo viên gọi một số học sinh đọc.

- Học sinh khác nhận xét bạn đọc đúng dấu thanh chưa.

- Nếu vẫn còn học sinh đọc chưa đúng.

- Giáo viên đọc mẫu và phân tích cho học sinh.

Chẳng hạn như:

“Tặc lưỡi” thanh ngã không đọc là “Tặc lưới” thanh sắc.

“Giận giữ” thanh ngã không đọc là “Giận dứ” thanh sắc.

“Dũng cảm” thanh ngã không đọc là “Dúng cảm” thanh sắc....

2. Luyện đọc đúng ngữ điệu.

- Đọc đúng ngữ điệu bao gồm lên giọng, xuống giọng, nhấn giọng, chuyển giọng, ngắt hơi, cường độ và cả trường độ của giọng đọc... Như vậy đọc đúng ngữ điệu là đúng về ý nghĩa, nội dung của từ, câu, đoạn... đúng phong cách và chức năng của văn bản các em đọc thế nào để người nghe thấy được cái hay, cái đẹp của nội dung và nghệ thuật của bài đọc. Đọc đúng ngữ điệu là thể hiện hài hòa về âm hưởng của bài đọc. Nó có giá trị lớn để bộc lộ cảm xúc, và vậy đọc đúng ngữ điệu rất quan trọng, giúp học sinh bước đầu thâm nhập vào văn bản, làm việc với văn bản.

Chính vì thế, để rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh, giáo viên cần chú ý rèn luyện cho học sinh đọc đúng ngữ điệu. Chẳng hạn khi học sinh đọc giáo viên hướng dẫn cụ thể, từng thể loại như sau:

+ Hướng dẫn đọc các câu đối thoại, lời nhận vật.

Ví dụ: Khi dạy bài: “Những  hạt thóc giống” - Tiếng Việt 4 - Phần 1.

- Tôi hướng dẫn cụ thể như sau để học sinh biết đọc lời của nhân vật, cho học sinh đọc thầm 1 lượt.

Hỏi:   - Bài có mấy nhận vật? Đó là những nhận vật nào?

          - Lời của từng nhân vật đọc như thế nào?

- Giáo viên đọc mẫu đúng lời của các nhân vật.

Lời của Chôm : Ngây thơ, lo lắng: “Tâu bệ hạ! con không làm sao cho hạt thóc của Người nảy mầm được''

Lời của Nhà vua:

- Khiêm tốn (lúc giải thích thóc giống đã được luộc).

- Khi dõng dạc (Lúc ca ngợi chú bé Chôm)

“Trung thực là đức tính quý nhất của con người. Ta sẽ truyền ngôi cho chú bé trung thực và dũng cảm này”

Sau khi hướng dẫn và đọc mẫu, giáo viên cho học sinh đọc phân vai (người dẫn chuyện, Nhà vua, chú bé).

 Hướng dẫn đọc nhấn giọng các từ ngữ hình ảnh quan trọng.

Ví dụ: Khi dạy bài “Đôi giày ba ta màu xanh” - Tiếng Việt lớp 4 – Tập Một

Bài có 2 đoạn:

Đoạn 1: Tả vẻ đẹp của đôi giày cần đọc giọng thế nào.

Đoạn 2: Đọc giọng thế nào thấy được tâm trạng của cậu bé.

- Đoạn 1: Đọc giọng hồi tưởng, nhẹ nhàng nhấn giọng một số từ ...

Chao ôi!/ Đôi giày mới đẹp làm sao!/ Cổ giày cao,/ ôm sát chân,/ thân giày làm bằng vải cứng,/ dáng thon thả,/ màu vàng như màu da trời....

- Đoạn 2: Nhấn giọng từ ngữ tả sự xúc động niềm vui xướng của cậu bé.

Hôm  nhận giày, tay Lái run run,/ môi cậu mấp máy,/ mắt hết nhìn đôi giày,/ lại nhìn xuống đôi chân mình đang ngọ ngậy dưới đất. Lúc ra khổi lớp,/ Lái cột hai chiếc giày vào với nhau,/ đeo vào cổ,/ nhảy tưng tưng...

Ví dụ 1: Khi dạy bài “Truyện cổ nước mình”

(Tác giả: Lâm Thị Vĩ Dạ - Tiếng Việt 4 – Tập Một)

Thơ lục bát: Thể thơ lục bát cần đọc giọng thong thả, trầm tĩnh, sâu lắng. Sự ngắt nhịp của câu thơ rất đa dạng, phù hợp với nội dung của từng câu thơ như:

- Tôi yêu / truyện cổ nước tôi //

Vừa nhân hậu / lại tuyệt vời sâu xa //

  • Thương người / rồi mới thương ta //

   Yêu nhau / dù mấy / cách xa cũng tìm //

      Vàng cơn nắng, / trắng cơn mưa //

        Con sông chảy / có rặng dừa nghiêng soi//

Câu thì nhịp 3/5, câu thì 2/4, câu lại nhịp 2/2/2 và câu nhịp 3/3. Khi dạy, chúng ta cho học sinh thấy được sự ngắt nhịp cũng như sự gieo vần của các dòng thơ. Thơ lục bát thường tiếng thứ 6 của câu 6 gieo vần với tiếng thứ 6 của câu thứ 8 (Vần “ôi” của tiếng tôi gieo với vần  “ơi” của tiếng vời..)

Ví dụ 2: Khi dạy bài “Dòng sông mặc áo”

(Tiếng Việt lớp 4- Tập Hai - Tác giả: Nguyễn Trọng Tạo).

Để thấy được niềm vui bất ngờ của tác giả khi phát hiện ra những vẻ đẹp đổi thay muôn màu của dòng sông qua sự ngắt nhịp của câu thơ.

 

Sáng ra / thơm đến ngẩn ngơ /

Dòng dông đã mặc bao giờ / áo hoa /

Ngước lên / bỗng gặp la đà /

Ngàn hoa bưởi đã nở nhòa / áo ai /

Thơ tự do : Khi dạy bài “Tuổi ngựa” của tác giả: Xuân Quỳnh

(Tiếng Việt lớp 4 – Tập Một).

Bài thơ mỗi dòng gồm 5 tiếng. Yêu cầu học sinh đọc ngắt nhịp khác với bài thơ lục bát. Để miêu tả được ước vọng lãng mạng của đứa con. Lắng lại đầy trìu mến của tình cảm mẹ con, thể hiện rõ sự ngắt nhịp, nhấn giọng như:

Mẹ ơi / con sẽ phi /                            nhịp 2/3

Qua bao nhiêu / ngọn gió /       nhịp 3/2

Gió xanh / miền Trung du /      nhịp 2/3

Gió lồng / vùng đất đỏ             nhịp 2/3

Gió xanh hút / đại ngàn /....     nhịp 3/2

Con /mang về / cho mẹ /           nhịp 1/2/2

Ngọn gió của / trăm miền. //     nhịp 3/2

Như vậy, để rèn luyện kỹ năng đọc cho học sinh, chúng ta ngoài việc rèn đọc đúng âm, vần và đọc cần đúng ngữ điệu... của các bài văn, thơ. Bên cạnh đó, chúng ta cần rèn cho học sinh biết đọc diễn cảm.

3. Luyện  đọc diễn cảm.

      Để rèn cho các em đọc diễn cảm thì trước hết phải rèn cho các em đọc đúng, đọc ngắt giọng và nhấn giọng đã. Đọc diễn cảm là đọc văn bản sao cho giọng điệu phù hợp với tình huống miêu tả trong văn bản, thể hiện được tình cảm, thái độ, đặc điểm của nhân vật hay tình cảm, thái độ của tác giả đối với nhân vật và nội dung miêu tả trong văn bản. Đọc diễn cảm có nhiều mức độ:

- Biết nhấn mạnh các từ quan trọng trong câu.

Ví dụ: Trong bài  Tre Việt Nam -Tiếng Việt 4 tập 1 trang 88 có câu

Bão bùng / thân bọc lấy thân

Tay ôm, tay níu / tre gần nhau thêm.

Thương nhau / tre chẳng ở riêng.

Lũy thành từ đó mà nên / hỡi người.

      Khi đọc giáo viên phải lưu ý học sinh đọc nhấn giọng ở các từ ngữ gợi tả, gợi cảm như: bão bùng, ôm, níu, chẳng ở riêng.

      - Biết thể hiện ngữ điệu (Sự thay đổi cao độ,  trường độ của giọng đọc) phù hợp với từng loại câu (câu kể, câu hỏi, câu cảm, câu khiến).

      - Biết đọc giọng phân biệt lời kể của tác giả và lời nhân vật.

      - Biết đọc phân biệt lời của của các nhân vật.

      Ví dụ : Trong bài Tập đọc “Thưa chuyện với mẹ” -  Tiếng Việt 4 tập 2 trang 31-

Khi đọc toàn bài với giọng: trao đổi, trò chuyện thân mật, nhẹ nhàng. Lời Cương thì đọc với giọng lễ phép, khẩn khoản, thiết tha xin mẹ cho em học nghè rèn và giúp em thuyết phục với cha. Giọng mẹ Cương: ngạc nhiên khi nói “Con vừa bảo gì ? Ai xui con thế ?”, cảm động, dịu dàng khi hiểu lòng con “Con muốn giúp mẹ, ...anh thợ rèn”. Đến ba dòng cuối bài đọc chậm với giọng suy tưởng, sảng khoái, hồn nhiên thể hiện hồi tưởng của Cương về cảnh lao động hấp dẫn ở lò rèn.

       Biết thể hiện ngữ điệu phù hợp với tình huống miêu tả trong đoạn văn hoặc văn bản.

3. Hướng dẫn học sinh đọc hiểu

Không chỉ rèn cho học sinh đọc đúng đọc hay mà chúng ta cũng cần rèn cho học sinh biết đọc hiểu. Đọc hiểu là thông qua đọc, người đọc hiểu được nội dung tư tưởng chủ đề đơn giản của bài. Nhận biết được đề tài, chủ đề đơn giản của bài. Nắm được dàn ý sơ lược, tóm tắt được nội dung chính của bài, của đoạn, phát hiện được giá trị của tác phẩm trong việc biểu đạt nội dung. Hiểu được ý nghĩa của bài. Hình thành kỹ năng đọc lướt nắm ý chính hoặc lựa chọn thông tin. Biết ghi các thông tin cần thiết. Chính vì thế để rèn kỹ năng đọc cho học sinh, tôi đã chú ý rèn kỹ năng đọc hiểu.

* Rèn luyện kỹ năng tìm hiểu nội dung của đoạn bài.

Rèn luyện kỹ năng tìm hiểu nội dung của bài, đoạn. Tôi đã cho học sinh dựa vào các câu hỏi trong sách giáo khoa để tìm hiểu như:

 

Ví dụ 1: Khi dạy bài “Trung thu độc lập”.

(Tác giả: Thép Mới - Tiếng việt 4 - phần 1)

Học sinh đọc đoạn 1 và các em thấy được cảnh đẹp của đất nước qua các câu văn miêu tả Trung thu độc lập đầu tiên của đất nước.

“... Trăng ngàn và gió núi bao la khiến lòng anh...”

Đoạn 2: Đây chính là mơ tưởng của anh chiến sĩ - Mơ ước của anh rất đẹp và ước mơ đó đã thành sự thực.

“... Mươi mười lăm năm... dòng thác nước chảy xuống làm chạy máy phát điện”.

Đoạn 3: Học sinh đọc và thấy được niềm tin của anh chiến sĩ về những tết Trung thu sau là niềm tin vào tương lai.

“Anh mừng cho các em... Tết Trung thu sau còn tươi đẹp hơn”

Ví dụ 2: Khi dạy bài “Chợ tết”

(Tác giả: Đoàn Văn Cừ - Tiếng Việt lớp 4 - phần II)

Thông qua đọc, học sinh hiểu và thấy được vẻ đẹp của bài thơ là một bức tranh giàu mầu sắc và vô cùng sinh động dưới ngòi bút của tác giả. Bức tranh ấy nói lên cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc của người dân quê: Mặt trời lên làm đỏ dần những dải mây trắng và những làn sương sớm. Núi đồi cũng làm duyên, núi uốn mình trong chiếc áo the xanh đồi thoa son. Những tia nắng nghịch ngợm nhảy hoài trong ruộng lúa... Bức tranh giàu màu sắc của chợ tết được tạo bởi các màu: Trắng, đỏ, hồng, làm, xanh, biếc, thắm, vàng, tím, son. Ngay cả màu đỏ cũng có nhiều cung bậc: (hồng, đỏ, tía, thắm, son...) Học sinh hiểu được như vậy là do đọc từng đoạn, bài thông qua các câu hỏi gợi ý của sách giáo khoa và giáo viên đưa ra.

Ví dụ 3: Khi dạy bài “Hoa học trò”

(Tác giả: Xuân Diệu - Tiếng việt lớp 4 - Phần II)

Để học sinh cảm nhận được vẻ đẹp độc đáo của hoa phượng qua ngòi bút miêu tả tài tình của tác giả. Tôi đã cho học sinh đọc đoạn, đọc bài và gợi ý bằng hệ thống câu hỏi để học sinh tìm hiểu nội dung như:

+ Tại sao tác giả gọi hoa phượng là hoa học trò?

Vì : Phượng là loại cây gần gũi, quen thuộc với học trò. Phượng thường được trồng nhiều ở sân trường và nở vào mùa thi của học trò. Hoa phượng nở là nghĩ đến kỳ thi và những ngày hè.

+ Vẻ đẹp của hoa phượng có gì đặc biệt:

Hoa phượng đỏ rực, đẹp không phải ở một đóa mà cả loạt, cả một vùng, cả một góc trời, sắc màu như muôn ngàn con bướm thắm ...

+ Màu hoa phượng thay đổi như thế nào theo thời gian?

Lúc đầu đỏ nhạt, gặp mưa hoa càng tươi. Dần dần số hoa tăng, màu đỏ đậm dần theo thời gian.

+ Em nêu cảm nhận của mình khi đọc bài văn đó (Học sinh tự do nói cảm nghĩ của mình).

Như vậy, thông qua đọc học sinh không những thấy được, hiểu được, cảm nhận được nội dung, ý nghĩa của văn bản mà còn thấy được giá trị nghệ thuật của từng văn bản, có thể đưa ra nhận xét, đánh giá về chúng. Đây là những giải pháp để hướng dẫn học sinh lớp 4 đọc diễn cảm tốt. Tôi thấy vô cùng cần thiết, để góp một phần không nhỏ vào việc cảm thụ văn học của mình. Đọc diễn cảm tốt là truyền được nội dung và cảm xúc của bài văn, thơ tới người nghe mà chưa cần phải giảng.

 

CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM

 

            I. Thời gian, địa điểm và đối tượng thực nghiệm.

            1. Thời gian, địa điểm:

Ngày 16 tháng 04 năm 2010 - Trường Tiểu học Văn Khê A

 2. Đối tượng:

Học sinh lớp 4C, Trường tiểu học Văn Khê A

 3. Bài thực nghiệm: Tôi đã chọn bài: Đường lên Sa Pa

       Tôi mạnh dạn chọn bài này vì đây là bài văn xuôi, học sinh sẽ đọc hay sai cả phát âm, ngắt giọng và nhấn giọng. Song đây lại là bài văn rất hay bởi nội dung thật gần gũi với học sinh.

      * Kiểm tra đánh giá:

      Trong quá trình dạy học tôi luôn áp dụng những biện pháp trên vào giảng dạy. Sau đó tôi dã tiến hành khảo sát học sinh như sau:

      *Kiểm tra miệng:

         1. Em hãy đọc đúng các từ sau:

              Lên lớp, hoa lá,  hoa quả, nũng nịu.

              Ăn lên làm ra, vững bền, tiến lên, ngũ quả.

          2. Em hãy đọc đúng đoạn văn  văn sau:

      Chú chim sâu vui cùng vườn cây và các loài chim bạn. Nhưng trong trí nhớ thơ ngây của chú còn mãi hình ảnh một cánh hoa mận trắng, biết nở cuối đông để báo trước mùa xuân tới.

      Đáp án bài 2:  Chú chim sâu vui cùng vườn cây / và các loài chim bạn.// Nhưng trong trí nhớ thơ ngây của chú / còn mãi hình ảnh một cành hoa mận trắng, / biết nở cuối đông để báo trước mùa xuân tới.//

      Tôi đã tiến hành khảo sát học sinh theo nội dung trên và thấy rằng kết quả đọc đúng, đọc ngắt giọng và nhấn giọng dẫn đến dọc diễn cảm của học sinh được nâng cao nhiều so với kết quả đầu năm, số lỗi mà học sinh  mắc phải đã giảm đi nhiều nhất là sai về phụ âm đầu  l/ n.

 

          II. Kết quả thực nghiệm.

 

 

 

 

Lớp

 


 số

Luyện phát âm

 

Ngắt giọng

 

Nhấn giọng

Đọc diễn cảm

 

Đúng

 

Chưa đúng

 

Đúng

 

Chư­a đúng

 

Đúng

 

Chưa đúng

 

Đúng

 

Chưa đúng

 

SL

 

%

 

SL

 

%

 

SL

 

%

 

SL

 

%

 

SL

 

%

 

SL

 

%

 

SL

 

%

 

SL

 

%

 

2A

 

24

20

83,3

4

16,7

17

70,8

7

29,2

16

66,6

8

33,4

15

62,5

9

37,5

         

     Qua tiết dạy Tập đọc bài “Đường lên Sa Pa" nhằm rèn kĩ năng đọc đúng, đọc                 ngắt giọng, nhấn giọng  và đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4, tôi thu được  một số kết quả sau:

     Nâng cao được trình độ của giáo viên: Giáo viên phải dành nhiều thời gian nghiên cứu, tham khảo các tài liệu hướng dẫn, sách giáo khoa để dạy phù hợp với trình độ của học sinh. Đặc biệt trong khi dạy phân môn Tập đọc nói chung với các phân môn khác trong trường tiểu học nói chung, người giáo viên cần phải có tính kiên trì, tỉ mỉ, có cách giảng truyền cảm để hướng dẫn các em cặn kẽ từng bài, từng phân môn, thu hút sự hứng thú học tập của  học sinh. Qua đó giáo viên được tư duy khoa học, tạo niềm say mê đối với nghề nghiệp của người giáo viên.

    Nâng cao chất lượng đọc cho học sinh. Dạy Tập đọc theo hướng này giúp các em khắc phục được tật nói ngọng, đọc thiếu dấu. Đặc biệt tôi chú ý đến những học sinh còn phát âm sai, sai về ngắt nhịp, đọc chưa hay, chưa diễn cảm. Khuyến khích các em ôn luyện tích cực, kích  thích hứng thú học tập của các em. Như vậy các em nắm được cách đọc, cách ngắt nhịp chính xác nên số học sinh đọc đúng, diễn cảm nhiều lên, số học sinh đọc sai lỗi ít đi rõ rệt. Các em thực sự có ý thức trong giờ học, hăng hái giơ tay để luyện đọc, để nêu kết quả việc làm của mình. Một số học sinh trung bình, nếu các em không có khả năng đọc hay thì các em cũng có khả năng đọc đúng, đọc trôi chảy bài văn, bài thơ. Thông qua tiết dạy tôi thấy: Đây là một cách thức tích cực giúp cho học sinh say sưa và tự giác học tập, rèn cho các em có thói quen bạo dạn, tự nhiên thể hiện được tình cảm của mình trước tập thể. Do vậy biện pháp mà tôi đề xuất và áp dụng là phù hợp và đúng đắn. Tôi đã đạt kết quả như mong muốn. Chất lượng đọc đã tiến bộ rõ rệt so với đầu năm.

      Số học đọc đúng tăng lên

      Số học sinh đọc ngọng (rất ít)

      Số học sinh đọc ngắt giọng, nhấn giọng và diễn cảm tăng lên nhiều.

 III. Kết luận và những đề xuất.

       1. Kết luận:                          

      Trong giao tiếp, trong học tập, trong công tác hàng ngày, con  người luôn phải học hỏi, tiếp thu nền văn minh của xã hội loài người. Vậy mà trong những kinh nghiệm cuộc sống, những thành tựu về văn hóa, khoa học, xã hội những tư tưởng tình cảm của các thế hệ đi trước và của xã hội đương thời thì phần lớn đơn vị ghi lại bằng chữ viết. Do vậy nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp thu nền văn minh của nhân loại, không có niềm vui, hạnh phúc với đúng nghĩa của nó trong xã hội hiện tại. Chính vì vậy dạy học là một việc làm vô cùng quan trọng ở tiểu học, trong các giờ học của các môn học nói chung và ở phân môn Tập đọc nói riêng việc đọc đúng, hay cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Bởi có đọc được thì học sinh mới có thể học được các môn học khác.

      2. Những đề xuất

      Để học sinh có khả năng đọc đúng, hay, diễn cảm thì người giáo viên phải dạy cho học sinh đọc đúng, đọc diễn cảm ngay từ những lớp đầu cấp. Nhưng không phải bằng cách tăng thời gian luyện đọc mà coi trọng chất lượng đọc, mà phải xác định nội dung đọc, hiểu như nhau. Xác định được ngữ liệu nội dung từng đoạn của bài để xác định các yếu tố nghệ thuật và giá trị của chúng trong diễn đạt nội dung. Giáo viên phải là người đọc mẫu chuẩn, hay. Dạy phải tỉ mỉ, kiên trì, nhẹ nhàng. Việc đưa ra hệ thống phiếu bài tập phải đảm bảo các yêu cầu, phải thực hiện được mục đích, học sinh phải chiếm lĩnh được một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và trong học tập. Khi giảng dạy cần chú ý đến nội dung bài tập đọc. Những bài có yếu tố văn cần có những bài tập giúp học sinh phát hiện ra những giá trị tác dụng của chúng trong tác phẩm.

      Đề tài  Rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 4 giúp học sinh pháp âm đúng, chuẩn, đọc đúng ngữ liệu, ngắt giọng đúng và hay. Khi dạy giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian và có đầy đủ sách giáo khoa, sách giáo viên và phải chuẩn bị cả về đồ dùng dạy học phục vụ cho bài dạy đó thì tiết học mới có hiêụ quả cao. Mặc dù còn khó khăn trong trong quá trình thực hiện phương pháp nhưng nếu khắc phục được tôi nghĩ đây là một việc làm rất thiết thực trong quá trình nâng cao chất lượng đọc cho học sinh, góp phần lớn vào mục tiêu giáo dục tiểu học. Với đề  tài  Rèn kĩ năng đọc cho học sinh  lớp 2 tôi hi vọng rằng giúp các em nâng cao khả năng đọc của mình. Đồng thời thông qua đó góp phần nhỏ bé giúp bản thân cũng như đồng nghiệp có cái nhìn đúng hơn về vấn đề “ Đọc” để từ đó rèn cho các em biết: Đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm.

 

 

C- BÀI HỌC KINH NGHIỆM

 

          Việc tìm hiểu nội dung và phương pháp dạy học mới là vấn đề cấp thiết của mỗi người giáo viên. Đó là nền tảng, là công cụ để sử dụng trong quá trình dạy học. Vì vậy mỗi giáo viên cần phải cập nhật, nắm bắt và sử dụng nó một cách linh hoạt và sáng tạo.

          Để đạt được kết quả cao trong quá trình dạy học đòi hỏi người giáo viên phải biết kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học và nội dung dạy học, phương pháp dạy học với đồ dùng trực quan, lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh,... để đạt được mục đích của bài học đề ra.

          Bên cạnh đó trình độ chuyên môn của giáo viên với năng lực sư phạm; với ngôn ngữ giảng giải ngắn gọn, rõ ràng, dế hiểu là những điều mà không thể thiếu đối với mỗi giáo viên trên bục giảng.

          Một điều qua trọng nhất là phải biết kết hợp điều kiện, hoàn cảnh, con người của địa phương để áp dụng phương pháp dạy học sao cho phù hợp với từng vùng miền khác nhau nhằm đạt kết quả cao trong quá trình dạy học.

           Qua đây tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường tiểu học Chung Chải, cô giáo Nguyễn Thị Hồng Nhung và các em học sinh lớp 2A đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành việc nghiên cứu đề tài sáng kiến kinh nghiệm này         

                   Tôi xin chân thành cảm ơn!

 

                                                                   Chung Chải, ngày 20 tháng 9  năm 201

Ban giám hiệu nhà trường                                     Người viết đề tài

 

 

 

 

                                                                                     Nguyễn Thị Kiểm

 

ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI CỦA HĐKH CẤP TRƯỜNG

 

....................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................

ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI CỦA HĐKH CẤP PHÒNG

 

....................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Minh Thuyết – Sách giáo khoa Tiéng Việt 2 tập 1, Nhà xuất bản giáo dục, 2003.

2. Sách giáo  viên Tiếng Việt 2, Nhà xuất bản giáo dục, 2003.

3. Vở bài tập Tiếng Việt 2, Nhà xuất bản giáo dục, 2003.

4. Các tạp chí giáo dục tiểu học, báo Giáo dục thời đại và các trang Web Giáo dục .WEB EB

MỤC LỤC

 

Mục

Nội dung

Trang

  A                                             Phần mở đầu

1

I

Lí do chọn đề tài

2

2

Đối tượng nghiên cứu

3

3

Phương pháp nghiên cứu

3

   B                                           Phần nội dung

 

1

Nội dung dạy đọc trong chương trình Tập đọc lớp 2

5

1.1

Mục tiêu của việc rèn đọc trong giờ Tập đọc

2

1.2

Nội dung phân môn Tập đọc lớp 2

4

1.3

Phương pháp rèn đọc cho học sinh lớp 2

4

2

Thực trạng của việc dạy học phân môn Tập đọc lớp 2

6

2.1

Khảo sát qui trình dạy học môn Tập đọc của học sinh lớp 2

6

2.2

Khảo sát kĩ năng đọc của học sinh lớp 2

7

3

Một số giải pháp rèn đọc cho học sinh lớp 2

8

3.1.

Một số giải pháp rèn đọc cho học sinh lớp 2

8

3.1.1

Luyện phát âm

9

3.1.2

Luyện đọc ngắt giọng

10

3.1.3

Luyện đọc nhấn giọng

11

3.1.4

Luyện đọc diễn cảm

12

3.2

Dạy thực nghiệm

13

3.2.1

Giới thiệu chung về địa bàn thực nghiệm

13

  C

                                Phần kết luận

15

                                          Tài liệu tham khảo

16

   D

                               Thay cho li kết

17

                                            ĐÁNH GIÁ BÀI TẬP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

 

          - Vấn đề trong bài tập nghiên cứu khoa học đã phù hợp với tình hình hiện nay ở trường phổ thông chưa? Kết quả nghiên cứu có đạt được mục đích, nhiệm vụ đã đề ra không?

          -  Cách lập luận giải quyết vấn đề trong bài tập nghiên cứu khoa học có hợp lý thoả đáng không?

          - Các phương pháp nghiên cứu, điều tra, thu thập thông tin có phù hợp với đề tài?

          - Các biện pháp xử lý các thông tin, số liệu, tài liệu, kết quả điều tra có khách quan và chính xác?

          - Ý nghĩa thực tiễn của bài tập nghiên cứu.

          - Hình thức trình bày.

 

          ..........................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................

             Điểm bài tập nghiên cứu khoa học ( Chấm theo thang điểm 10):.......

 

T/M BGH TRƯỜNG TH MƯỜNG NHÉ 1

                                                                                         ( Ký tên, đóng dấu)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài viết liên quan